Vũ Digital | Agency thiết kế, tư vấn nhận diện thương hiệu

21/07/2023

Tầm nhìn và sứ mệnh tác động ra sao đến hiệu quả kinh tế?

21 tháng 7 0
Đã đến lúc khép lại quan điểm cho rằng tầm nhìn và sứ mệnh chỉ là những câu hô hào giúp tạo dấu ấn trước truyền thông của các nhà lãnh đạo.

Một thống kê của PwC hồi đầu năm cho thấy, khoảng 40% CEO cho rằng hiệu quả kinh tế của họ sẽ không thể thay đổi trong 10 năm tới – nếu bản thân doanh nghiệp không tự thay đổi, nghĩa là vươn mình để thoát khỏi những định kiến xây dựng xưa cũ.

Hiện đây cũng là thế khó của nhiều doanh nghiệp trong nước, chứ không hẳn chỉ là chuyện riêng của những doanh nghiệp nước ngoài.

Vũ cho rằng có hai yếu tố khiến những nhà lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam bị “mắc kẹt giữa dòng sông” – một nghịch cảnh đúng nghĩa khi trong tay không có lợi thế cạnh tranh để nâng giá bán, mà đi theo lối cũ cũng không xong vì đối diện với rủi ro về tỉ suất lợi nhuận.

Minh hoạ tầm nhìn và sứ mệnh (ảnh: vudigital.co)
Minh hoạ tầm nhìn và sứ mệnh (ảnh: vudigital.co)

Đầu tiên là mức độ chênh lệch giữa các doanh nghiệp, nhà cung cấp dịch vụ với các doanh nghiệp hay tổ chức thuần sản xuất vẫn còn quá lớn.

Việt Nam vẫn được biết đến là một trong những “công xưởng lớn của thế giới”, nhưng chắc chắn không được đánh giá cao về năng lực cung cấp dịch vụ, thậm chí rất hiếm doanh nghiệp dịch vụ đủ sức vươn khỏi ranh giới quốc gia. Trong khi các doanh nghiệp thuần sản xuất thường không có, hoặc rất ít động lực xây dựng thương hiệu mạnh.

Thứ hai là ảnh hưởng của mô hình kinh doanh gia đình trị, định hướng doanh nghiệp được thừa kế bởi các thế hệ tiếp nối trong gia đình người Á Đông – thay vì trao quyền vào tay nhân sự nước ngoài hoặc các cá nhân thật sự xứng đáng.

Thế hệ kế thừa một phần chịu áp lực duy trì những giá trị truyền thống của người đi trước, phần còn lại bản thân họ cũng tin tưởng vào quan điểm và định hướng kinh doanh của ông bà hoặc cha mẹ mình. Tin rằng những gì thế hệ tiền nhiệm đã làm là đúng, là chính xác và phù hợp với định hướng phát triển của cả doanh nghiệp.

Hai yếu tố kể trên cũng dẫn đến hai định kiến khác biệt về tầm nhìn và sứ mệnh doanh nghiệp, tiếc rằng chẳng có quan điểm nào trong đó phù hợp với triết lý kinh doanh hiệu quả.

Một bên cho rằng doanh nghiệp khác có tầm nhìn và sứ mệnh thì doanh nghiệp mình cũng phải có, bên còn lại khẳng định tầm nhìn và sứ mệnh là các yếu tố “có hay không cũng được.” Thậm chí cho rằng tầm nhìn và sứ mệnh chỉ là những câu hô hào, giúp ban lãnh đạo doanh nghiệp tạo dấu ấn tích cực trước truyền thông.

Bài chia sẻ lần này của Vũ sẽ không chỉ đề cập đến khái niệm, sự khác nhau giữa tầm nhìn và sứ mệnh doanh nghiệp. Thông qua bài viết, Vũ còn muốn gửi đến tất cả các bạn những suy nghĩ, quan điểm và phân tích về tầm quan trọng của tầm nhìn, sứ mệnh doanh nghiệp đối với hiệu quả kinh tế.

Bản chất của tầm nhìn và sứ mệnh thương hiệu


Để giải thích, phân tích hoặc chia sẻ kiến thức thương hiệu đến tất cả những ai quan tâm và có mong muốn thấu hiểu, Vũ vẫn luôn nhìn nhận thương hiệu như một con người đúng nghĩa. Khoác lên mình thương hiệu những tính cách, thói quen và hệ giá trị như mỗi người trong số chúng ta.

Khi đó thương hiệu cũng giống như chính chúng ta, được sinh ra và lớn lên từ những ngày tháng bé nhỏ còn nằm trong vòng tay cha mẹ.

Trừ “chàng Superman” Clark Kent được sinh ra tại hành tinh Krypton hư cấu, hạ phàm xuống Trái Đất và mang theo những siêu năng lực đáng mơ ước, còn tất cả những đứa trẻ khác trên hành tinh này đều khai sinh bằng thân phận của người trần mắt thịt.

Không phải ai cũng hạ phàm và mang theo năng lực siêu nhiên như Clark Kent (ảnh: Slate).
Không phải ai cũng hạ phàm và mang theo năng lực siêu nhiên như Clark Kent (ảnh: Slate).

Bản thân chúng ta không thể vừa mới ra đời đã sở hữu tiếng thét siêu âm, ánh nhìn Gamma hay năng lực đi xuyên qua nhiều vật chất khác nhau.

Nhưng chúng ta biết rằng để hơn 20 năm nữa được trở thành bác sĩ, thì ngay từ lúc ngồi trên ghế nhà trường đã phải tích cực rèn luyện, trau dồi thêm các môn học tự nhiên.

Hoặc để sau này trở thành người làm việc trên các con tàu viễn dương, được chu du khắp thế giới mà không cần có số dư hàng tỷ đồng trong tài khoản, thì năng lực và kinh nghiệm chuyên môn thôi là chưa đủ.

Chúng ta phải cố gắng rèn luyện thêm để cải thiện về thể lực, sức khoẻ thể chất và dĩ nhiên còn phải thông thạo ít nhất 2 ngoại ngữ trở lên.

Tầm nhìn và sứ mệnh đối với mỗi thương hiệu hay doanh nghiệp cũng tương tự. Giá trị vốn hoá của Apple đâu thể cán mốc 3000 tỷ đô la, nếu trụ sở làm việc vẫn đang là hầm để xe cũ kĩ trong nhà Steve Jobs. Rồi đâu phải ai cũng biết rằng, thương hiệu xe Volvo nổi tiếng thế giới ở thời điểm khai sinh chỉ là nhà sản xuất bạc đạn không hơn không kém.

Mỗi thương hiệu nổi tiếng toàn cầu đều có cho riêng mình những bước khởi đầu khiêm tốn, thậm chí không ít rủi ro và thử thách nối đuôi nhau tìm đến.

Nhưng thương hiệu thì không may mắn như một đứa trẻ, mỗi đứa trẻ khi được sinh ra đời đều phát triển tuần tự đúng với lứa tuổi vốn có. Mấy tuổi đi nhà trẻ, mấy tuổi học tiểu học, mấy tuổi học phổ thông? Học phổ thông xong thì vẫn còn quá nhiều lựa chọn nhằm định hướng tương lai của bản thân mình.

Thương hiệu lại giống như một cậu nhóc “vừa chào đời đã tròn 18 tuổi.” Chưa được đào tạo qua nhiều trường lớp chính quy, kinh nghiệm thương trường thì gần như chỉ là con số không tròn trĩnh.

Vậy mà “cậu nhóc thương hiệu” đó bị buộc phải lên một định hướng, hoạch định sẵn một lộ trình rõ ràng cho bản thân trong ít nhất 5 hoặc 10 năm kế tiếp. Hoàn toàn mờ mịt, chẳng khác nào trong bữa tiệc thôi nôi bạn thấy con cháu mình bốc một cục đất trên mâm, rồi tin chắc rằng đứa bé sau này sẽ làm giàu nhanh nhờ giỏi chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

Đó là lý do vì sao tầm nhìn và sứ mệnh thương hiệu không thể quyết định một cách vội vàng, thiếu cơ sở hay dựa trên nền tảng chủ quan của nhà sáng lập cùng đội ngũ lãnh đạo.

Steve Jobs hồi tưởng lại thời gian trụ sở Apple còn là garage xe (ảnh: Channel News).
Steve Jobs hồi tưởng lại thời gian trụ sở Apple còn là garage xe (ảnh: Channel News).

Con người có những ước mơ cao siêu từ bé như trở thành phi hành gia bay vào vũ trụ, trở thành bác sĩ đi khắp thế giới chữa bệnh cho bệnh nhân nghèo. Lớn lên học xong chương trình phổ thông thì những ước mơ thuở nhỏ vỡ vụn gần hết, vào đến đại học nhiều người chỉ còn muốn ra trường thật nhanh để đơn giản là “xin được việc làm.”

Đáng buồn là nhiều thương hiệu trong nước cũng đang đi theo con đường như vậy. Dù chỉ là thương hiệu còn trẻ tuổi, mới khởi nghiệp và số lượng khách hàng tìm đến có thể đếm bằng đầu ngón tay.

Nhưng nhà sáng lập, ban cố vấn và cả cấp lãnh đạo doanh nghiệp luôn đề ra tầm nhìn và sứ mệnh rất xa vời. Dĩ nhiên chúng vượt quá ngân sách, nguồn lực và cả tiềm lực phát triển của một doanh nghiệp trẻ.

Không biết từ bao giờ và xuất phát từ trường hợp cụ thể nào, nhiều doanh nghiệp Việt Nam luôn muốn xác định tầm nhìn thương hiệu là trở thành một ai đó hay cái gì đó vĩ đại.

Chẳng hạn như trở thành nhà cung cấp sản phẩm uy tín nhất thị trường Việt Nam, trở thành nhà phân phối có năng lực đáp ứng hàng hoá số một Hà Nội, hay trở thành biểu tượng đi đầu cho sản phẩm ví tiền sử dụng cơ chế hút nam châm,…

Nghe thì rất hoành tráng và hay ho, nhưng ngẫm kĩ lại sẽ nhìn thấy cả một bầu trời sáo rỗng. Bởi doanh nghiệp hay thương hiệu của bạn có trở thành ai, đứng thứ mấy thị trường và có phải người đi đầu cho một công nghệ nào đó hay không, bạn nghĩ được bao nhiêu người tiêu dùng cần và muốn quan tâm đến những vấn đề đó?

Rồi trong khi khách hàng mục tiêu đang chờ đợi thương hiệu sản xuất, phân phối và bán ra sản phẩm họ cần, giải quyết triệt để những vấn đề họ đang gặp phải, thì nhà sáng lập vẫn đang mãi ba hoa về những ước mơ viễn vông hệt như một đứa trẻ lên năm.

Khách hàng muốn thấy những gì bạn làm chứ không phải những gì bạn nói (ảnh: CareGard).
Khách hàng muốn thấy những gì bạn làm chứ không phải những gì bạn nói (ảnh: CareGard).

Sau cùng với một tầm nhìn xa vời, bay bổng thì chắc chắn sứ mệnh thương hiệu cũng “không thể tầm thường.” Muốn trở thành nhà cung cấp số một thị trường trong nước thì nhiệm vụ của thương hiệu ít nhất phải đáp ứng nhu cầu của hàng vạn, thậm chí hàng triệu người tiêu dùng cùng lúc.

Tương tự như vậy với các kiểu tầm nhìn thương hiệu muốn trở thành ai hoặc cái gì đó vĩ đại, cao siêu và phần nào xa rời thực tế. Tầm nhìn và sứ mệnh thương hiệu vượt quá năng lực đáp ứng của doanh nghiệp, đội ngũ nhân sự thì chắc chắn kết cục chẳng đi đến đâu.

Nhà sáng lập và ban lãnh đạo công ty sẽ rất nhanh thôi, bị vỡ vụn niềm tin ở các định hướng xa vời giống như thanh niên ở ngưỡng cửa đôi mươi – nhận ra rằng ước mơ trở thành “super hero giữa đời thực” lúc nhỏ đã rời xa tầm với.

Xây dựng tầm nhìn và sứ mệnh thương hiệu như thế nào?

Không phải “vô duyên vô cớ” mà nhiều người nhận định rằng, tầm nhìn và sứ mệnh thương hiệu chỉ là những câu hô hào của lãnh đạo doanh nghiệp – nhằm mục đích làm đẹp hình ảnh thương hiệu và tạo dấu ấn rõ nét trước truyền thông.

Bởi có rất nhiều nhà sáng lập, ban lãnh đạo doanh nghiệp đang thật sự hiểu sai về nhiệm vụ cũng như cách xây dựng tầm nhìn và sứ mệnh thương hiệu hiệu quả. Họ xác định tầm nhìn và sứ mệnh mà không có một cơ sở lý luận nào rõ ràng, họ vội vàng xác định tầm nhìn và sứ mệnh chỉ vì “công ty khác có mà mình không có thì không chấp nhận được.”

Khi không biết chính xác phải làm thế nào với tầm nhìn và sứ mệnh của thương hiệu, nhiều người chỉ còn cách khoác lên đó tấm vỏ bọc hào nhoáng và cao siêu nhất có thể. Nhưng vạn vật trên thế giới đều có tuổi thọ ngắn hạn nếu cốt lõi của nó trống rỗng, yếu ớt và vô giá trị.

Cũng như một chiếc nhẫn mạ vàng thì không thể so sánh với nhẫn vàng thật, sau một thời gian ngắn lớp vàng bên ngoài sẽ bị bong tróc, lởm chởm hoặc xỉn màu đi nhiều. Tầm nhìn và sứ mệnh thương hiệu cũng có thể hiểu theo hướng tương tự, nếu không thể “tiến hoá” theo hướng tốt lên thì một ngày nào đó cũng bị “chọn lọc tự nhiên” đào thải.

Thay vì mang tầm nhìn và sứ mệnh lên vạch xuất phát của quá trình xây dựng hình ảnh, bản sắc của một thương hiệu. Các nhà sáng lập cùng ban lãnh đạo doanh nghiệp cần hiểu rằng tầm nhìn và sứ mệnh chính là điểm nhấn kết trong quá trình này.

Clark Kent không chỉ trở thành siêu nhân nhờ mặc “áo choàng” (ảnh: WIRED).
Clark Kent không chỉ trở thành siêu nhân nhờ mặc “áo choàng” (ảnh: WIRED).

Không phải ngẫu nhiên mà Vũ luôn dành vị trí sau cùng trong mỗi lần thuyết trình về phương án xây dựng bản sắc, đến các nhà sáng lập hay nhân sự cấp cao doanh nghiệp trong quá trình tạo dựng thương hiệu.

Quay lại với việc hình tượng hoá thương hiệu như một con người đúng nghĩa ở đầu bài, thì dù đang ở bất cứ độ tuổi nào đi chăng nữa, mỗi người trong số chúng ta đều phải xác định đúng tính cách, bản chất, ưu điểm của bản thân hay thậm chí là năng lực thiên bẩm của chính mình – để định hướng con đường sự nghiệp trong tương lai một cách đúng đắn.

Xây dựng thương hiệu cũng vậy, bạn đâu thể trách người khác nghĩ mình đang hô hào, khoác lác nếu bản thân xây dựng tầm nhìn và sứ mệnh thương hiệu mà chẳng có cơ sở nào để không ngừng vững tâm.

Tầm nhìn và sứ mệnh phải được xây dựng từ nền tảng của tính cách, quan điểm cùng với hệ giá trị mà đội ngũ thương hiệu theo đuổi. Học yếu các môn tự nhiên thì làm gì có cơ hội trở thành bác sĩ, chưa ra khơi đã hoa mắt chóng mặt thì chẳng ai dám tuyển bạn làm việc trên tàu viễn dương.

Cũng như vậy, bạn không thể ép thương hiệu của mình trở thành Apple, Tesla, hay Mercedes Benz thứ hai nếu ít nhất bạn không thể xây dựng nền tảng bản sắc tương tự cho thương hiệu.

Trong trường hợp bạn đã sẵn sàng lao vào cuộc chơi đó với những thương hiệu hàng đầu thế giới, thì tầm nhìn và sứ mệnh thương hiệu chính là hành trang để giúp bạn tiếp tục vững tâm. Nói cách khác, tầm nhìn và sứ mệnh nên được nhìn nhận là điều kiện đủ – chứ không nhất thiết là điều kiện cần (hoặc bắt buộc cần có) trên chặng đường xây dựng thương hiệu.

Bên cạnh đó tầm nhìn và sứ mệnh thương hiệu cũng không phải “vũ khí” của doanh nghiệp, nhà sáng lập hay đội ngũ lãnh đạo trước truyền thông. Ngược lại, tầm nhìn và sứ mệnh nên được phát triển rồi lan toả từ trong chính đội ngũ nhân sự.

Một mình bạn không thể khiến hàng vạn hay hàng triệu khách hàng mục tiêu tin tưởng, nhưng cả đội ngũ thương hiệu cùng đồng sức chung lòng lại thì hoàn toàn có thể.

Một mình Elon Musk cũng không thể tạo nên đế chế của bản thân ông (ảnh: Twitter).
Một mình Elon Musk cũng không thể tạo nên đế chế của bản thân ông (ảnh: Twitter).

Nếu nhìn lại và để ý kĩ thì bạn sẽ phát hiện ra một thực tế rằng, rất nhiều thương hiệu lớn của Việt Nam dù đã thành lập từ hàng chục năm trước, sớm có được vị thế vững vàng trên thị trường hoặc thậm chí dẫn đầu trong lĩnh vực của họ. Nhưng cũng rất khó để bạn tìm kiếm các tư liệu về tầm nhìn và sứ mệnh thương hiệu trên các phương tiện truyền thông.

Họ hiểu là trước khi xây dựng thành công tệp khách hàng trung thành, để họ sẵn sàng lôi kéo và kể cho người khác nghe về câu chuyện, tầm nhìn hay sứ mệnh thương hiệu, thì chính mỗi thành viên trong đội ngũ nhân sự phải thấu hiểu và tự hào kể lại câu chuyện đó cho những người xung quanh.

Vì vậy tầm nhìn và sứ mệnh không cần quá lớn lao, chẳng cần quá cao siêu, những tình tiết đao to búa lớn lại càng phải tiết giảm bớt. Hãy để tầm nhìn và sứ mệnh thương hiệu của bạn trở nên đời thực hơn, gần gũi hơn với đại chúng, để cho bất cứ ai cũng sẵn sàng lắng nghe, đồng cảm và có thể lan truyền chuỗi giá trị mà bạn đang theo đuổi ngay lập tức.

Xin chân thành cảm ơn,
Xem thêm

14/12/2022

Xây dựng chiến lược từ khả năng thích ứng

14 tháng 12 0
Khả năng thích ứng với sự thay đổi về nhu cầu, thị trường hay mô hình kinh doanh là điều cần thiết trong quá trình xây dựng chiến lược thương hiệu, đặc biệt là với những ngành nhiều biến động.

Xây dựng chiến lược là quá trình tìm kiếm vấn đề của tổ chức và hình thành bộ giải pháp cụ thể để giải quyết chúng. Nhìn rộng hơn, chúng ta hoạch định chiến lược nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là kết quả kinh doanh thuận lợi và tạo ra giá trị tích cực cho cộng đồng.

Và khi nói đến xây dựng chiến lược, ta có xu hướng hình dung về quy trình như sau: nghiên cứu tình huống, xác định mục tiêu và vạch ra lộ trình từng bước để đạt được điều đó. Đây từng là cách tiếp cận chủ đạo của mọi công ty. Thận trọng, kỹ lưỡng, hạn chế mọi sai sót có thể xuất hiện và tin rằng thương hiệu sẽ gặt hái được quả ngọt.

Nhưng mọi thứ đang dần thay đổi. Các thương hiệu đang vận hành trong một thời đại đầy rủi ro và bất ổn. Toàn cầu hóa, công nghệ mới, internet, dịch bệnh… Những yếu tố này kết hợp lại với nhau đã làm biến đổi mô hình kinh doanh của vô số ngành công nghiệp. Ta dễ dàng liệt kê những cái tên như bán lẻ, du lịch, xuất bản,… Đó đều là các ngành đã khác rất nhiều so với vài năm trước.

Tất cả sự không chắc chắn nói trên đặt ra thách thức to lớn trong việc xây dựng chiến lược của thương hiệu. Bản kế hoạch kinh doanh kéo dài nhiều thập kỷ của các tập đoàn dầu mỏ sẽ không phù hợp với giám đốc điều hành của một công ty phần mềm, người phải đối mặt với áp lực đổi mới hàng ngày và do đó, ưu tiên phong cách linh hoạt hơn.

Xây dựng chiến lược từ khả năng thích ứng

Chiến lược hiện đại không chỉ bao gồm một cách tiếp cận. Môi trường cạnh tranh luôn “chuyển động”. Nhu cầu của khách hàng thay đổi. Đối thủ cạnh tranh mới xuất hiện. Công nghệ cũ phát triển và những sản phẩm mới được tạo ra. Những yếu tố này buộc thương hiệu phải tìm cách để ứng phó. Ngay cả các công ty truyền thống cũng dần để cao sự thích ứng nhanh chóng sau những gìi đại dịch Covid 19 đã gây ra. Họ hiểu rằng chậm chân hơn đồng nghĩa với lạc hậu và thậm chí là biến mất khỏi thị trường.

Ứng phó với sự thay đổi là một phần thiết yếu của mọi doanh nghiệp.Trong bài viết này, đội ngũ Vũ Digital sẽ cùng bạn đọc tìm hiểu vì sao khả năng thích ứng lại quan trọng khi xây dựng chiến lược và xem xét cách thức các công ty sử dụng bốn năng lực cốt lõi để đạt được lợi thế.

Thích ứng để phát triển


Lợi thế từ khả năng thích ứng không phải là một khái niệm mới. Nhà bác học Charles Darwin đã sớm nhận ra sức mạnh của các loài sinh vật có khả năng thích nghi nhanh nhất khi môi trường sống biến đổi. Những loài to lớn, hung bạo nhất, nhưng không chịu đựng nổi sự khắc nghiệt của tự nhiên, sẽ lập tức bị loại bỏ.

Trong kinh doanh, lý thuyết tương tự – quan điểm cho rằng chiến lược không phải lúc nào cũng là thận trọng lập kế hoạch từng bước, và rằng tốc độ cùng tính linh hoạt hoàn toàn có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh – cũng được áp dụng. Một số nhà kinh tế học như Henry Mintzberg, Richard R. Nelson,… đã phát triển lý thuyết chiến lược dựa trên luận điểm này.

Theo họ, khi mô hình của công ty lẫn của ngành liên tục biến đổi và ngày càng khó để đưa ra những dự đoán chính xác, chúng ta cần sẵn sàng đổi mới và đón nhận những biến số đó. Điều này tạo ra một lằn ranh phân biệt những thương hiệu áp dụng cách tiếp cận mà Vũ gọi là “thích ứng nhanh” và những thương hiệu theo đuổi phong cách “cổ điển”.

Trong quá trình xây dựng chiến lược “cổ điển”, nhà lãnh đạo sẽ tập trung vào một chiến lược duy nhất. Họ lập kế hoạch cẩn thận, phân tích các tình huống, dự đoán kết quả và triển khai các hoạt động cụ thể. Các bước được thực hiện tuần tự. A đến B, B đến C, C đến D. Cứ thế cho đến khi đạt được kết quả cuối cùng.

Trọng tâm của phong cách ‘cổ điển’ là lợi thế cạnh tranh bền vững. Thương hiệu không thể thay đổi môi trường cạnh tranh trong ngành một cách nhanh chóng. Chẳng hạn, chuyện một thương hiệu xe hơi vượt trội hơn mọi cái tên khác là rất khó xảy ra. Sự khác biệt giữa các công ty hầu như là rất ít. Do đó, lợi thế của phong cách ‘cổ điển’ thường dựa trên quy mô, danh tiếng thương hiệu hoặc năng lực sản xuất.

Ngược lại, sự quan tâm của các công ty ‘thích ứng nhanh’ không xoay quanh một tình huống duy nhất. Một chiến lược đơn lẻ nhiều khả năng là không đủ để theo kịp với những thay đổi. Công ty cần liên tục đổi mới trọng tâm chiến lược, sản phẩm, mô hình kinh doanh; thử nghiệm và chọn ra những kết quả hứa hẹn nhất. Sau đó, họ phát triển tối đa phương án được chọn trước khi lặp lại chu kỳ thêm nhiều lần nữa.

Quy trình của vòng lặp thích ứng này bao gồm ba bước: đổi mới – chọn lọc – phát triển. Hình minh họa dưới đây sẽ giúp bạn đọc hình dung rõ hơn.

Quy trình xây dựng chiến lược từ khả năng thích ứng
Quy trình xây dựng chiến lược từ khả năng thích ứng

Để ứng phó với sự thay đổi, thương hiệu ưu tiên tốc độ thay vì sự an toàn. Phân tích chi tiết hay đặt ra những yêu cầu chính xác tuyệt đối là một sự lãng phí thời gian lẫn nguồn lực. Bằng cách thử nghiệm ý tưởng nhanh và hiệu quả hơn so với đối thủ, thương hiệu có nhiều cơ hội để tạo ra giá trị khác biệt và nắm bắt xu hướng mới.

Rupert Murdoch, chủ tịch News Corporation, một trong những tập đoàn truyền thông lớn nhất thế giới, đã từng phát biểu như sau:

Khả năng thích nghi là sự kết hợp từ tư duy thử nghiệm và hành động liên tục. Bản chất của nó khác với cách tiếp cận cổ điển, bao gồm hai giai đoạn tuần tự là (1) phân tích và lập kế hoạch và (2) thực hiện. Hai giai đoạn này sau đó lại được thực hiện bởi nhiều bộ phận khác nhau của tổ chức. Trong khi với mô hình ưu tiên tốc độ, việc tách biệt như vậy rất nguy hiểm, vì nó làm chậm và cản trở quá trình xây dựng chiến lược.

Thương hiệu nào sẽ phù hợp với chiến lược này?


Chúng ta đã hiểu vì sao khả năng thích ứng lại đóng vai trò quan trọng khi xây dựng chiến lược. Câu hỏi tiếp theo là: Những thương hiệu nào sẽ phù hợp mô hình này?

Theo Martin Reeves, chủ tịch tập đoàn tư vấn Boston, cách tiếp cận này phù hợp khi và chỉ khi thương hiệu hoạt động trong một lĩnh vực khó dự đoán và chưa được định hình rõ ràng. Điều này đồng nghĩa rằng không phải thương hiệu nào cũng đủ khả năng và sẵn sàng để xây dựng chiến lược thích ứng.

Như Vũ đã chia sẻ, đối với những ngành kinh doanh truyền thống, các tập đoàn hoàn toàn đủ khả năng dự đoán tình hình trong năm, mười năm tới. Sự khác biệt trong lợi thế của các thương hiệu cũng không mất đi ngay ngày hôm sau. Lúc này, khả năng thích nghi sẽ không phải ưu tiên hàng đầu.

Ví dụ, ngành công nghiệp dầu mỏ ít khi khiến các nhà kinh tế học bất ngờ vì những biến động của nó. Tất nhiên, mọi thứ đều thay đổi, nhưng là theo cách có thể đoán trước. Các nhà lãnh đạo biết rằng cung, cầu dao động khi xuất hiện xung đột chính trị hoặc lạm phát, điều kiện thời tiết, v.v. Mặt khác, vì những yếu tố này nằm ngoài tầm kiểm soát của hầu hết các công ty và rào cản gia nhập cao nên không ai thực sự có đủ khả năng thay đổi cuộc chơi dầu mỏ.

Những biến động trong các ngành công nghiệp như dầu mỏ thường sẽ được dự báo trước (ảnh: Ehud Neuhaus)
Những biến động trong các ngành công nghiệp như dầu mỏ thường sẽ được dự báo trước (ảnh: Ehud Neuhaus)

Nhưng xu hướng cố định như thế không áp dụng với tất cả các ngành. Trong một môi trường thiếu tính chắc chắn, thương hiệu buộc phải làm mới chính mình để tồn tại. Lúc này, những câu hỏi sau sẽ xuất hiện khi xây dựng chiến lược:
  • Làm thế nào tạo lập lợi thế dựa trên quy mô hoặc thị phần khi thương hiệu dẫn đầu cũng có thể bị “hất văng” ngay ngày hôm sau?
  • Khi môi trường kinh doanh không thể đoán trước, làm thế nào thương hiệu áp dụng các dự báo và phân tích truyền thống, vốn là trọng tâm của xây dựng chiến lược?
  • Khi thương hiệu bị choáng ngợp với sự thay đổi, làm thế nào để nhà lãnh đạo nhận ra các tín hiệu để ứng phó với chúng?
  • Khi sự thay đổi diễn ra quá nhanh, chu kỳ lập kế hoạch một năm, năm năm hay mười năm có còn phù hợp không?
Khi tìm kiếm câu trả lời cho những vấn đề trên, chúng đều dẫn đến thực tế chung: với một số lĩnh vực, lợi thế cạnh tranh không còn phát sinh từ vị trí, quy mô và năng lực trong sản xuất hoặc phân phối sản phẩm. Tất cả về cơ bản là “tĩnh”. Vậy lợi thế đến từ đâu? Ta nhận ra rằng nó bắt nguồn từ năng lực thúc đẩy sự thích ứng nhanh chóng.

Lợi thế bắt nguồn từ năng lực thúc đẩy sự thích ứng nhanh chóng (ảnh: Mimi Thian)
Lợi thế bắt nguồn từ năng lực thúc đẩy sự thích ứng nhanh chóng (ảnh: Mimi Thian)

Cụ thể, những thương hiệu thích ứng nhanh sẽ nhận biết và hành động để ứng phó với các tín hiệu thay đổi. Họ tìm ra nhiều phương pháp thử nghiệm để tối ưu hóa các ý tưởng. Họ cũng không giới hạn các thử nghiệm với sản phẩm mà còn áp dụng cho mô hình, quy trình và chiến lược kinh doanh.

Tiếp theo, thương hiệu thích ứng nhanh hợp tác và quản lý những nguồn lực bên ngoài, giúp hỗ trợ cho việc xây dựng chiến lược. Họ hiểu rằng khi mọi thứ diễn ra quá nhanh, một công ty không thể “tay không làm nên tất cả”. Và điều quan trọng nhất, thương hiệu học được cách tận dụng nguồn lực lớn nhất của mình – đội ngũ nhân sự.

Vậy chính xác thì những yếu tố trên tác động như thế nào đến quá trình xây dựng chiến lược? Vũ sẽ cùng bạn đọc tìm hiểu ngay sau đây.

Xây dựng chiến lược từ những tín hiệu thay đổi


Trong lĩnh vực đua xe Công thức 1 (F1), đã từng có thời điểm mà mẫu xe và người đua là hai yếu tố xác định người chiến thắng. Nếu trong chặng đua có sự xuất hiện của Stirling Moss, xác suất cao là những tay đua còn lại sẽ tranh nhau vị trí thứ hai.

Nhưng hiện tại, môn thể thao này ngày càng thiên về khả năng xử lý các tình huống phức tạp và quá trình đưa ra quyết định liên quan đến cơ học lẫn cách lái xe. Hàng trăm cảm biến được tích hợp vào chiếc xe; các đội đua không ngừng thu thập và phân tích dữ liệu của hàng nghìn biến số trước mỗi cuộc đua.

Tất cả nhằm giúp vận động viên đưa ra quyết định tốt nhất vào khoảnh khắc quyết định, vốn kéo dài chưa đến một giây. Chính vì thế, những đổi mới về mặt công nghệ của một đội đua có thể ngay lập tức thay đổi tiêu chuẩn chung của cả giải đấu.

Thế giới đang trở nên “phẳng” hơn. Thông tin có sẵn cho hầu hết mọi người. Và để thích ứng, một công ty cần điều chỉnh để bắt kịp các tín hiệu từ môi trường bên ngoài, giải mã chúng và nhanh chóng hành động để tinh chỉnh mô hình kinh doanh. Điều này yêu cầu sự nhanh nhạy và giảm thiểu sự tập trung quyền lực, các hệ thống phân cấp phức tạp.




Xem thêm

13/12/2022

Logo Mastercard thay đổi như thế nào sau hơn 50 năm

13 tháng 12 0
Logo Mastercard là biểu tượng cho sự đơn giản, tinh tế và nhất quán.

Mastercard là tập đoàn chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và thanh toán, chủ yếu là thông qua thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ. Cho dù là mua sắm tại cửa hàng, thông qua iPhone hay các trang web thương mại điện tử, Mastercard đều có thể giúp người dùng thanh toán dễ dàng hơn.

Ngoài việc mang đến các giải pháp tài chính, thương hiệu này còn tự hào sở hữu một trong những logo phổ biến nhất trên thế giới. Hai vòng tròn của Mastercard đã trở thành biểu tượng quen thuộc không chỉ đối với những người hoạt động trong lĩnh vực kinh tế mà còn được nhận biết bởi những người dùng phổ thông.

Trong bài chia sẻ lần này, đội ngũ Vũ Digital sẽ cùng bạn đọc điểm qua những lần thay đổi thiết kế logo Mastercard trong suốt lịch sử thương hiệu. Các yếu tố trên logo Mastercard hiện nay đều gắn liền với một ý nghĩa cụ thể, đó cũng là động lực để Vũ chia sẻ đến tất cả các bạn những kiến thức hữu ích này.

Lịch sử hình thành thương hiệu Mastercard


Câu chuyện của Mastercard và toàn bộ thị trường thẻ tín dụng khởi đầu từ những năm 1940, khi một số ngân hàng Hoa Kỳ cung cấp cho khách hàng của họ một loại giấy đặc biệt, có thể sử dụng để thay thế tiền mặt tại các cửa hàng địa phương. Đây được xem là hình thức sơ khởi nhất của mô hình thanh toán bằng thẻ mà chúng ta đang sử dụng rộng rãi.

Năm 1966, tiền thân của Mastercard là Interbank Card Asociation ra đời. Mười bảy nhà tài phiệt ngân hàng cùng gặp nhau tại một hội trường nằm ở thành phố Buffalo, New York. Những nhà lãnh đạo này tập trung thảo luận về việc thành lập một liên đoàn “thẻ tín dụng” để quản lý và vận hành các dịch vụ phát hành, phân phối và thanh toán qua thẻ, thứ đang dần được khách hàng ưa chuộng.

Hiệp hội thẻ Liên ngân hàng Mỹ, gọi tắt là ICA chính thức đi vào hoạt động. Một mục tiêu khác của ICA là phản ứng lại sự thành công của sản phẩm BankAmericard, do công ty Bank of America phát hành, sau này được biết đến với tên gọi VISA. 

Mastercard là một trong những thương hiệu được nhận biết nhiều nhất thế giới (ảnh: Mastercard)
Mastercard là một trong những thương hiệu được nhận biết nhiều nhất thế giới (ảnh: Mastercard)

Năm 1968, ICA bắt đầu hình thành một mạng lưới toàn cầu, trước tiên là bằng cách liên kết với ngân hàng Banco Nacional (Mexico) - ngân hàng thương mại quyền lực bậc nhất khu vực Trung Mỹ. Sau đó, họ tiếp tục thành lập các liên minh ở châu Âu và Nhật Bản.

Từ giai đoạn 1970 đến 1980, ICA đã hợp tác với các ngân hàng đến từ hầu hết mọi nơi trên thế giới. Để thể hiện tham vọng của mình đối với thị trường quốc tế, ICA đổi tên thành Mastercard International. Theo thời gian, Mastercard đã thực hiện hàng loạt thương vụ mua lại, sáp nhập và ngày càng lớn mạnh.

Cùng với VISA, Mastercard là một trong những thương hiệu dẫn đầu thị trường thẻ tín dụng. Theo thống kê, Mastercard xử lý trung bình khoảng 3,500 giao dịch mỗi giây. Năm 2020, người dùng trên toàn thế giới thanh toán các hóa đơn mua hàng của mình bằng thẻ Mastercard với số lượng hơn 113 tỷ lần.

Logo Interbank, tiền thân của logo Mastercard (1967)


Như đã chia sẻ, Interbank Card Association là tên gọi đầu tiên của tập đoàn Mastercard. Logo Interbank được phát triển theo phong cách tương đối đơn giản. Biểu tượng bao gồm, chữ “I” màu trắng viết thường, đặt trên một vòng tròn màu đen để tạo sự tương phản. Tên thương hiệu “Interbank” viết hoa toàn bộ bằng màu đen và được đặt dưới biểu tượng. Logo này tương đối đơn giản và thiếu sự cuốn hút nhất định với người xem. Interbank là khởi đầu của thương hiệu Mastercard (ảnh: 100logos)

Logo Mastercard phiên bản hai vòng tròn (1968)


Lịch sử logo Mastercard có liên quan mật thiết đến sự phát triển của thương hiệu này. Nó phản ánh tất cả các khái niệm mang tính chiến lược mà Mastercard đã định hướng cho hoạt động công ty. Năm 1968, một biểu tượng mới được thiết kế nhằm thể hiện sự hợp tác giữa các ngân hàng với nhau.
Logo Mastercard phiên bản ứng dụng hai vòng tròn (ảnh: 100logos)

Ban đầu, ban lãnh đạo Interbank thống nhất tên của tấm thẻ mà họ phát hành sẽ là Master Charge. Các nhà thiết kế sử dụng nó để cung cấp khả năng nhận diện thương hiệu mạnh mẽ hơn. Cụm từ “master charge” viết thường và “The interbnank card” viết hoa nằm giữa hai vòng tròn xếp chồng lên nhau. Biểu tượng được cách điệu như một cách minh họa trực quan về ý tưởng hợp tác cùng có lợi.

Điểm nhấn chính của logo Mastercard phiên bản 1968 này là màu sắc của nó. Màu đỏ và cam được sử dụng trong logo đã được duy trì đến phiên bản mới nhất vào năm 2019, với rất ít sự thay đổi. Đây là bộ màu nổi bật và thu hút sự chú ý của người xem gần như ngay lập tức. Ở góc dưới cùng bên phải, biểu tượng “i” được giữ lại với kích thước nhỏ hơn nhằm mục đích tạo ra sự thống nhất về hình ảnh thương hiệu.

Tuy nổi bật hơn phiên bản trước đó, nhưng có thể thấy là logo Mastercard năm 1968 chứa đựng tương đối nhiều chi tiết. Tên sản phẩm, tên công ty lẫn logo của Interbank cùng thể hiện khiến người xem gặp khó trong việc ghi nhớ. Tính phân cấp của logo cũng không rõ ràng khi hai cụm từ "mastercharge" và "the interbank card" có cùng phông chữ và chỉ có sự khác biệt nhỏ về kích thước.

"Mastercard" chính thức được áp dụng (1979)


Tháng 12 năm 1979, ICA chính thức đổi tên thành Mastercard nhằm mở rộng sang thị trường quốc tế. Điều này đồng nghĩa logo của tập đoàn một lần nữa sẽ phải có sự điều chỉnh. Cái tên mới “Mastercard” xuất hiện trên logo, thay thế cho những tên gọi trước đó.

Sự nhất quán của thương hiệu được nâng lên một tầm cao mới. Trước kia, khách hàng buộc phải ghi nhớ MasterCharge là tên của sản phẩm, còn Interbank là nhà phát hành. Giờ đây, mọi thứ trở nên dễ dàng hơn cho người dùng với một tên gọi duy nhất “Mastercard”.
Tên gọi Mastercard chính thức được áp dụng trong các hoạt động của thương hiệu (ảnh: 100logos)

Về mặt thiết kế, hình ảnh hai vòng tròn đỏ và cam trong logo Mastercard không bị loại bỏ vì chúng vẫn phản ánh sự tiến bộ, nguồn năng lượng và chiến lược hoạt động của thương hiệu. Biểu tượng “i” sau đó cũng được gỡ bỏ vào năm 1980. Cách làm này mang lại sự tối giản và tập trung trong logo, giảm thiểu các chi tiết không cần thiết và tăng cường mức độ nhận diện.
Logo Mastercard giai đoạn 1990 - 1996

Logo Mastercard đã được thay đổi một chút. Thương hiệu duy trì hai vòng tròn lồng vào nhau, nhưng thay vì màu cam, họ sử dụng màu vàng. Phần giao nhau giữa các vòng tròn được tô điểm bằng các sọc ngang xen kẽ hai màu chính. Đội ngũ thiết kế sử dụng phông chữ sans-serif mới cho tên thương hiệu Mastercard. Nó cũng được in nghiêng thay vì kiểu chữ thẳng thông thường.
Logo Mastercard giai đoạn 1990 - 1996 (ảnh: 100logos)

Logo Mastercard giai đoạn 1996 - 2016


Trong phiên bản logo được sử dụng trong 20 năm sau đó, các nhà phát triển tập trung vào vòng tròn màu vàng, cụ thể là họ đã tăng sắc độ của nó. Thương hiệu cũng giảm số lượng các sọc giao nhau ở trung tâm biểu tượng. Điều này làm cho logo trở nên tối giản và tinh gọn hơn. Bản điều chỉnh cũng tạo nên sự thu hút cho cụm từ “Mastercard” bằng cách đổ bóng phía sau. Logo Mastercard giai đoạn 1996 - 2016 (ảnh: 100logos)

Logo Mastercard phiên bản tối giản (2016)


Năm 2016, Mastercard quyết định làm mới toàn bộ hệ thống nhận diện thương hiệu. Sự kiện này đánh dấu lần điều chỉnh thứ năm của logo Mastercard sau hai thập kỷ. Phần văn bản và sọc nằm bên trong các vòng tròn biến mất và Pentagram, agency đứng sau chiến dịch, đã lựa chọn hình ảnh hai hình tròn xếp chồng lên nhau, như những gì đã tồn tại trước năm 1990.
Phiên bản năm 2016 quay trở về với hình ảnh hai vòng tròn xếp chồng lên nhau (ảnh: 100logos)

Tập đoàn cũng thay đổi cách viết tên thương hiệu, cụm từ nay được viết thường toàn bộ: mastercard. Tên của công ty sử dụng phông chữ mới và nằm phía dưới. Màu vàng của logo được tăng sắc độ và gần với màu cam hơn. Người xem có thể nhận thấy điểm này ở phần giao điểm của hai yếu tố. Theo Pentagram, mục tiêu của bộ nhận diện là truyền đạt sự đơn giản và hiện đại, cùng với đó là bảo tồn di sản và giá trị thương hiệu của công ty.

Đồng thời, công nghệ kỹ thuật số dần trở thành một phân khúc phát triển trong hoạt động kinh doanh của Mastercard. Vì vậy, họ cần một hệ thống hình ảnh có thể giúp định vị thương hiệu như một công ty công nghệ lấy con người làm trung tâm. Logo Mastercard phiên bản 2016 đại diện cho định hướng đó. Logo cũng có thể hoạt động hiệu quả trên tất cả các nền tảng và thiết bị khác nhau.

Logo Mastercard (2019)


Tháng 1 năm 2019, thương hiệu loại bỏ tên “mastercard” khỏi logo mang tính biểu tượng của mình cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau. Các vòng tròn màu đỏ và màu vàng lồng vào nhau, hình ảnh đã trở nên cực kỳ phổ biến, nay được gọi là "Biểu tượng Mastercard". Logo Mastercard với hai hình tròn mang tính biểu tượng (ảnh: 100logos)

Các nhà lãnh đạo Mastercard tự tin rằng logo giờ đây có thể tự đứng vững và đại diện cho cả thương hiệu một cách tuyệt đối. Khách hàng khi nhìn vào biểu tượng sẽ ngay lập tức liên tưởng đến thương hiệu Mastercard, vì thế tên thương hiệu không nhất thiết phải được thể hiện cùng với logo. Các yếu tố còn lại hầu như không thay đổi, logo Mastercard vẫn đảm bảo tính hiện đại và linh hoạt nhằm hoạt động trên môi trường kỹ thuật số.

Phông chữ và màu sắc của logo Mastercard


Ngay từ đầu, bộ nhận diện thương hiệu của Mastercard đã dựa trên các yếu tố cực kỳ đơn giản: hai vòng tròn mang màu đỏ và vàng. Phương pháp xếp chồng thể hiện rõ nét ý tưởng về "tính kết nối", trong khi các hình tròn cơ bản gợi ý về "sự bao quát và khả năng tiếp cận". Các đặc điểm này chính là điểm mấu chốt cho thông điệp thương hiệu của Mastercard, vốn nhấn mạnh đến “những khả năng vô giá” (priceless possibilities). Những phiên bản sau đó hầu hết chỉ liên quan đến các chỉnh sửa nhỏ liên quan đến phông chữ hoặc màu sắc.

Trong lần điều chỉnh năm 2016, logo Mastercard sử dụng phông chữ FF Mark. Pentagram lựa chọn FF Mark vì kiểu dáng đơn giản, hiện đại và tính dễ đọc ở kích thước nhỏ. Điều này là vô cùng quan trọng khi Mastercard hướng đến sự tối ưu hóa trên các thiết bị công nghệ. Bộ chữ FF Mark cũng có những đường nét tròn, phù hợp với hệ thống thiết kế dựa trên logo.
 
FF Mark là phông chữ áp dụng cho các hoạt động truyền thông của thương hiệu Mastercard (ảnh: Pentagram)

Một thách thức khác đối với các nhà thiết kế là chọn ra ba màu sẽ được sử dụng trong logo Mastercard. Họ đã thực hiện hàng trăm thử nghiệm để tìm ra bộ màu, thứ không chỉ đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ, mà còn phải hiển thị tốt trong tất cả tình huống. Ngoài ra, trong các phiên bản ban đầu của logo Mastercard, màu đỏ và vàng chồng lên nhau đã tạo ra một màu mang sắc độ tối. Pentagram đã điều chỉnh để màu cam trở nên sáng hơn, tạo cho biểu tượng cảm giác lạc quan và tích cực.

Bảng màu chính thức của Mastercard (ảnh: Pentagram)[/caption]

Bảng màu cuối cùng được xây dựng từ các sắc độ màu bao quanh màu đỏ và vàng chính thức của logo. Những nhà thiết kế cũng sử dụng màu xám làm background để đảm bảo tính trung lập. Màu cam được thêm vào như một màu cơ bản mới (primary color), một điểm giao hoàn hảo giữa màu đỏ và màu vàng.

Lời kết

Vị trí dẫn đầu không đồng nghĩa với sự đảm bảo. Theo thời gian, thương hiệu buộc phải làm mới chính mình để bắt kịp với sự thay đổi trong xu hướng, hành vi, thị hiếu của nhóm khách hàng. Nhưng sự thay đổi phải dựa trên những khái niệm cốt lõi đã làm nên thương hiệu.

Với Mastercard, tính kết nối và đơn giản là những đặc tính hình thành nên câu chuyện của họ ngay từ thời điểm thành lập. Mastercard truyền tải bản sắc bằng hai vòng tròn kết hợp với nhau, và biểu tượng này đã tồn tại đến thời điểm hiện tại, thể hiện sự nhất quán và đơn giản trong cách thể hiện của thương hiệu.
Xem thêm

15/02/2022

Logo Sony, ý nghĩa và lịch sử hình thành từ 1946

15 tháng 2 0

Logo Sony với 4 chữ cái sử dụng phông Serif (chữ có chân) là một trong những logo dễ nhận biết và phổ biến nhất trên thế giới. Khác với hình ảnh đơn giản hiện tại, logo Sony đã trải qua nhiều lần thay đổi trong lịch sử của thương hiệu. 

Bảng hiệu logo Sony, nguồn: Sony

Lược sử hình thành Sony

Sony là một tập đoàn công nghệ Nhật Bản, đặt trụ sở chính tại thủ đô Tokyo, là một thương hiệu sản xuất thiết bị điện tử và phim toàn cầu, ngoài ra Sony cũng là một doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ tài chính với tổng số nhân viên hiện tại là 109.700 nhân viên (2021).

Ông Masaru Ibuka và ông Akio Morita, nguồn: japantimes.co.jp

Câu chuyện thành lập nên Sony bắt đầu vào năm 1946, khi ông Masaru Ibuka và ông Akio Morita và một nhóm nhỏ cộng sự đầy nhiệt huyết và tận tâm bắt đầu xây dựng ““Tokyo Tsushin Kenkyujo” (Totsuko), hay “Viện nghiên cứu viễn thông Tokyo”, mục tiêu của viện là sáng tạo ra những sản phẩm sáng tạo mang lại lợi ích cho người dân.

>> Xem thêm: Logo Nike và lịch sử biểu tượng thời trang thể thao hàng đầu thế giới từ 1964

Ý nghĩa tên thương hiệu Sony

Khởi đầu Masaru Ibuka và ông Akio Morita xem xét việc đặt tên thương hiệu là TTK (viết tắt của từ “Tokyo Tsushin Kenkyujo”), nhưng vận may đã mỉm cười khi họ không thể sử dụng tên này vì một công ty đường sắt Nhật Bản đã sử dụng TTK. 

Tiếp đó họ rút ngắn tên thương hiệu Tokyo Tsushin Kenkyujo trở thành Totsuko, nhưng họ nhận thấy nó quá khó đọc với thị trường Mỹ, nơi mà họ hướng đến.

Tiếp theo họ đặt tên Tokyo Teletech, một cái tên dễ đọc, nhưng cũng không được vì đã có một công ty Mỹ sử dụng. 

Cuối cùng Sony đã kết hợp 2 từ của ngôn ngữ phương Tây bao gồm từ “Sonus" có nghĩa là âm thanh trong tiếng Latinh và “Sunny" trong tiếng anh là “ánh sáng", đây là một từ hoàn toàn mới và không có trong bất kỳ từ điển nào và Tokyo Tsushin Kogyo đổi tên thành Sony năm 1958.

>> Có thể bạn quan tâm: Thương hiệu là gì? 6 yếu tố hội tụ trong một thương hiệu hoàn hảo

Logo Sony có lịch sử thay đổi khá thú vị bao gồm 6 lần được thiết kế lại, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về 6 lần thay đổi logo Sony.

Lịch sử thay đổi logo Sony, nguồn: logos-world

Logo Sony 1946-1955

Logo Sony

Logo Sony đầu tiên được thiết kế và giới thiệu vào năm 1946, biểu tượng trông giống như chữ T và đặt trong một vòng tròn, sử dụng một màu sắc duy nhất là màu đen, nó trông giống như một biểu tượng xe hơi hơn là một biểu tượng công nghệ, trông giống như logo Mitsubishi ngày nay.

Logo Sony 1955-1957

Logo Sony 1955-1957

Phiên bản tái thiết kế lại logo của Sony xuất hiện sau logo đầu tiên 10 năm. Logo Sony phiên bản thứ 2 sự thay đổi lớn tại trung tâm khi biểu tượng trừu tượng đã được thay bằng tên thương hiệu Sony được viết in nghiêng và hình tròn đã thay đổi bằng hình chữ nhật đứng. Sony vẫn sử dụng một màu duy nhất là màu đen.

Logo Sony 1957-1961

Logo Sony 1957-1961

Đây là lần thứ 2 logo Sony được thiết kế lại, chúng ta có thể thấy phiên bản này đã gần giống với logo Sony hiện tại. Đường viền phía ngoài đã được loại bỏ và phông chữ serif đậm, mạnh mẽ, vững chãi đã xuất hiện.

Logo Sony ​​1961 - 1962

Logo Sony ​​1961 - 1962

Phiên bản thứ 4 của logo Sony được thiết kế tinh tế hơn vào năm 1961, các chữ cái được thiết kế cao hơn và khoảng cách giữa các chữ đã được tăng lên tạo cảm giác thoải mái hơn phiên bản tiền nhiệm. 

Logo Sony 1962 - 1969

Logo Sony 1962 - 1969

Chỉ chưa đầy 1 năm sau, logo Sony lại tiếp tục được hiệu chỉnh, tên thương hiệu được làm sắc nét, vuông vức hơn và giảm độ đậm của phông chữ. 

Logo Sony 1973 - nay

Logo Sony

Bước đột phá xuất hiện vào năm 1973, khi Sony giới thiệu một phiên bản thiết kế logo tinh tế và hiện đạt hơn. Các đường cong và chân chữ đã được thiết kế vuông góc và đậm chắc, gọn gàng. Logo Sony sử dụng phông chữ Clarendon Medium.

Năm 1981, để đánh dấu cột mốc sinh nhật lần thứ 35 của công ty, Sony giới thiệu một thiết kế thương hiệu mới, nhưng nhà đồng sáng lập thương hiệu Masaru Ibuka đã chặn lại vì muốn giữ nguyên bản sắc thương hiệu của Sony, đây là một quyết định không thay đổi sáng suốt trong thế giới thiết kế thương hiệu. 

Câu chuyện về lược sử hình thành, tên thương hiệu và logo Sony cho chúng ta thấy rằng, việc đơn giản hoá và giữ vững bản sắc thương hiệu là một chiến lược tốt.

Nguồn: https://vudigital.home.blog/2022/02/15/logo-sony-y-nghia-va-lich-su-hinh-thanh-tu-1946/

Xem thêm

10/11/2021

Vén màn bí mật chiến lược kinh doanh của Tesla

10 tháng 11 0
Chiến lược kinh doanh của Tesla dựa trên nền tảng thay đổi hướng tiếp cận quy trình phát triển, sản xuất và truyền tải những giá trị mà một sản phẩm ô tô đủ sức mang đến.

Tesla Motors, Inc là một công ty rất đặc biệt ở trên thị trường ô tô và thế giới. Họ được biết đến là một công ty sản xuất ô tô, nhưng lại không sản xuất ra những chiếc ô tô tuân theo các tiêu chuẩn đời thường.

Họ cũng có một vị giám đốc điều hành giống như bao nhiêu doanh nghiệp khác. Nhưng cũng giống như nhiều sản phẩm ô tô mà họ tạo ra. Giám đốc điều hành của Tesla bị đánh giá là một nhà lãnh đạo cá biệt, lập dị và không ít lần làm ảnh hưởng đến danh tiếng công ty. Bằng những phát ngôn đúng với tính cách và bản chất ngông cuồng của bản thân.

Nhưng Elon Musk vẫn luôn như thế và gần như chắc chắn sẽ vẫn luôn như vậy. Người đàn ông đang đứng trước ngưỡng cửa trở thành người giàu có nhất lịch sử nhân loại.

Với tổng khối tài sản 340 tỷ USD tính đến đầu tháng 11/2021, lại là người có tâm lý vững vàng và luôn trung thành với mọi định hướng cũng như hoạt động cá nhân. 

Elon Musk và chiến lược kinh doanh của Tesla - nguồn: Fox Business.

Dù nó trái ngược với tính cách có phần “linh hoạt" trong ăn nói. Cũng như các phát ngôn đủ sức làm thị trường chao đảo ở trên mạng xã hội của chính vị tỷ phú này.

Không chỉ bị phê bình và công kích mạnh mẽ bởi cộng đồng mạng. Nhiều lần thậm chí Elon Musk còn tự chế giễu những phát ngôn của chính mình ở trên Twitter.

Những nét tính cách đặc trưng và con người có phần khác biệt của Elon Musk, cũng đã ít nhiều tác động và quyết định phần lớn các chiến lược kinh doanh của Tesla.

Đó đồng thời cũng là nguồn tư liệu và cảm hứng vô cùng đáng quý, thôi thúc Vũ gửi đến tất cả mọi người bài chia sẻ về chiến lược kinh doanh của Tesla hôm nay.

Nhằm trả lời câu hỏi rằng chiến lược kinh doanh đến từ một doanh nghiệp có phần sáng tạo, khác biệt đến mức “dị biệt" trong suy nghĩ của nhiều người. Thì liệu nó có phù hợp để ứng dụng vào mô hình kinh doanh của chính bạn hay không?
Chiến lược kinh doanh của Tesla không khởi đầu từ nền công nghiệp ô tô

Dù có mục tiêu sở hữu một trong những sản phẩm của Tesla ở thì tương lai hay không. Thì hãy chuẩn bị tâm lý rằng trải nghiệm ngồi phía sau tay lái của một chiếc Tesla, sẽ không hề giống với cảm giác ngồi bên trong bất cứ một mẫu xe nào khác trên thị trường.

Sẽ rất khó để Tesla giới thiệu những sản phẩm mang cốt cách và tinh thần tương đồng với một chiếc Peugeot, Toyota hay Mercedes Benz.

Cũng dễ hiểu thôi vì tầm nhìn, sứ mệnh cũng như chiến lược kinh doanh của Tesla không khởi đầu từ nền công nghiệp ô tô.
   Bên trong thiết kế tương lai của Tesla Model S - nguồn: CNet.

Trong khi nhiều người thích mô tả ô tô giống như một bộ máy tính đặt trên bốn chiếc bánh xe, thì Tesla và Elon Musk cùng với đội ngũ của ông lại không nghĩ như vậy.

Với chiến lược kinh doanh của Tesla cũng như định hướng phát triển sản phẩm của hãng. Ô tô là một sản phẩm được tạo ra bởi một hệ thống nhiều chiếc máy tính khác nhau.

Sao cho chúng tương thích và vận hành ăn khớp với nhau. Nhờ ứng dụng quy trình giống nhau, công nghệ giống nhau và sử dụng phần mềm đến từ một nhà cung cấp duy nhất.

Ở thời điểm những chiếc Tesla Model S còn đang trong giai đoạn thai nghén. Nhiều thương hiệu xe khác trên phạm vi toàn cầu vẫn đang rất tự tin với định hướng của họ.

Bằng việc ra đời những mẫu xe được thiết kế từ hệ thống không đồng nhất. Những chiếc máy tính, linh kiện điện tử hay phần mềm hệ thống đến từ nhiều nhà cung cấp khác nhau.

So với những thương hiệu xe như vậy, Tesla lại mang dáng dấp của một doanh nghiệp và thương hiệu công nghệ nhiều hơn.

Thậm chí trong suy nghĩ của những bộ óc giàu sức tưởng tượng nhất, Tesla cũng không phải một thương hiệu được ra đời để cạnh tranh trong nền công nghiệp ô tô hiện đại.

Biểu hiện rõ ràng nhất của định hướng tiếp cận và xây dựng chiến lược kinh doanh này, chính là việc Tesla luôn bán sản phẩm của mình đến trực tiếp người dùng cuối.

Thay vì xây dựng hệ thống kinh doanh thông qua nhiều đại lý nhượng quyền. Thương hiệu Hoa Kỳ lại sở hữu một chuỗi những cửa hàng và không gian trưng bày đẳng cấp trên phạm vi toàn cầu.

Không gian sáng tạo và khác biệt nơi trưng bày những chiếc xe Tesla - nguồn: Mint.

Nhờ ưu thế làm chủ hoàn toàn các kênh bán hàng trực tiếp. Chiến lược kinh doanh của Tesla đã mang đến trải nghiệm sử dụng dịch vụ hoàn hảo nhất cho khách hàng của họ.

Tesla cũng chủ động hơn trong công tác tuyển dụng và đào tạo đội ngũ nhân viên. Hạn chế đến mức thấp nhất những xung đột về lợi ích cá nhân. Điều luôn âm thầm diễn ra ở các cửa hàng và đại lý nhượng quyền kinh doanh ô tô khác.
Giải quyết triệt để nỗi bận tâm lớn nhất của nhân loại

Vận động Brexit cùng với những ảnh hưởng trầm trọng đến từ đại dịch Covid, chính là thảm hoạ kép mà người dân cũng như chính phủ của Vương quốc Anh đang phải gánh chịu.

Khủng hoảng nhiên liệu xăng dầu xảy ra là điều không quá bất ngờ. Nguồn cung thì cạn kiệt, tài xế chở nhiên liệu cho các công ty thì đình công. Nhiều hàng dài ô tô xếp hàng ở các trạm xăng trong sự chờ đợi vô vọng của người cầm lái.

Thậm chí một số cá nhân sử dụng xe điện đã tận dụng cơ hội này để thu hút sự chú ý. Như đoạn clip trên TikTok phải nhận nhiều phản ứng trái chiều từ cư dân mạng mới đây.

Một thanh niên bước xuống từ chiếc ô tô điện Tesla Model 3, trên tay là can đựng xăng màu xanh vô cùng bắt mắt.

Người này tiến đến trạm bơm nơi nhiều ô tô khác chạy xăng đang mòn mỏi chờ đến lượt, trước khi nhận ra mình không cần đến xăng nữa và có một tràn cười vô cùng hả hê.

Đoạn clip trên đã nhận hàng triệu phản hồi tiêu cực sau khi đăng tải. Nhưng nó đồng thời nhắc nhở con người chúng ta về một nỗi lo có thật mang tên Nhiên Liệu Cạn Kiệt.

Cần nhớ rằng thăm dò, khai thác và phân phối dầu mỏ cũng chỉ là một ngành công nghiệp. Không cần chờ đến lúc mọi mỏ dầu trên khắp thế giới đều bị khai thác sạch.

Mà chỉ cần những báo cáo lợi nhuận của hoạt động này quay về con số không, đó là lúc nhân loại phải bắt đầu sử dụng các nguồn nguyên liệu thay thế để phục vụ đời sống.

Khủng hoảng nhiên liệu tại Vương quốc Anh - nguồn: BBC.

Trong quá trình xây dựng chiến lược kinh doanh của Tesla, Elon Musk đã cùng với các cộng sự của mình tuyên bố sứ mệnh “đẩy nhanh quá trình chuyển đổi của thế giới sang năng lượng bền vững.”

Lợi thế của Tesla trong cuộc đua xe điện nói riêng và chuyển đổi năng lượng thay thế nói chung, đó là xuất phát điểm của Tesla đã là một thương hiệu xe điện thuần tuý.

Giống những gì mà ông Peter Drucker - người được mệnh danh là cha đẻ của quản trị kinh doanh hiện đại từng chia sẻ: “Muốn làm những điều mới mẻ thì trước tiên, hãy mạnh dạn từ bỏ những gì đã cũ.”

Thương hiệu Đức BMW vẫn chưa làm được điều này. Ít nhất tính đến thời điểm hiện tại để hiện thực hoá tham vọng trở thành đối thủ của Tesla.

Qua đó cạnh tranh thị phần trực tiếp, trong một thị trường được dự đoán có giá trị cán mốc 1,5 nghìn tỷ USD vào năm 2040 - chiếm 51% doanh số xe toàn cầu theo Morgan Stanley.

BMW vẫn chưa quyết tâm trong việc loại bỏ hoàn toàn động cơ đốt trong. Trong khi đó có một thương hiệu Việt Nam, vốn nổi tiếng với việc ứng dụng nền tảng của BMW vào các sản phẩm cao cấp của mình. Cũng đang phải loay hoay với quy trình phát triển xe chạy điện.

Ở bất cứ một quốc gia đang phát triển nào cũng vậy. Khi mà pin mặt trời còn chưa rõ số phận của nó sau khi hết hạn sử dụng, sẽ được gửi tận lên mặt trăng hay chuyển ngay cho xưởng sản xuất thịt bò một nắng.

Thì việc cải thiện chất lượng khí hậu và môi trường thông qua năng lượng điện trên xe ô tô, xem ra vẫn còn là câu chuyện của tương lai xa.

Trong một diễn biến khác, chiến lược kinh doanh của Tesla đã kịp mang đến cho họ hơn 160 cửa hàng tại Hoa Kỳ. Gần 14 nghìn bộ sạc trên phạm vi toàn cầu, trong đó có hơn 5 nghìn bộ sạc tăng áp. Cho phép sạc đầy chỉ sau chưa đến 30 phút.
Chiến lược kinh doanh của Tesla hướng đến thị trường châu Á

Khi đã trở thành thương hiệu vượt trội hơn hẳn so với phần còn lại, ít nhất là ở thị trường Bắc Mỹ và các quốc gia phương Tây.

Dĩ nhiên chiến lược kinh doanh của Tesla phải định hướng mở rộng thị trường, sang các quốc gia phát triển như tại châu Á chẳng hạn. Và Trung Quốc chính là một trong số những điển hình như thế.

Corolla Hybrid là mẫu xe điện bán chạy hàng đầu tại Trung Quốc - nguồn: Kentville Toyota.

Theo cơ sở dữ liệu từ Quichacha, nửa đầu năm 2021 đã chứng kiến nhiều nhà đầu tư rót vào hơn 80 tỷ Nhân dân tệ (khoảng 12 tỷ USD), vào 50 dự án liên quan đến ô tô chạy điện tại Trung Quốc.

Trong đó BYD là cái tên thu hút được nhiều lượt tương tác hàng đầu ở quốc gia tỷ dân. Khi đằng sau họ là sự hậu thuẫn âm thầm suốt 13 năm của Warren Buffett - nhà tỷ phú hiện đang là Chủ tịch của Berkshire Hathaway.

Chính phủ Trung Quốc thì vẫn đang giảm bớt một phần tiền thuế, trước khi tiến đến miễn thuế hoàn toàn cho những ai chọn mua và sở hữu ô tô điện.

Nhiều thành phố lớn tại quốc gia này trong đó có Bắc Kinh, đã giới hạn cấp phép tối đa 10 nghìn đăng ký xe sử dụng động cơ đốt trong mỗi tháng. Động thái này nhằm thúc đẩy doanh số và khuyến khích người dân chuyển sang thói quen sử dụng xe chạy điện.

Thống kê từ Mordor Intelligence cho thấy, Toyota đã bán hơn 38.500 xe Corolla Hybrid trong ba quý đầu năm 2019. Ghi nhận mức tăng trưởng hơn 20% so với cùng kỳ năm 2018.

Cũng trong năm 2019, thị trường xe điện tại Trung Quốc có giá trị đạt mốc 98 tỷ USD. Dự kiến đạt tỷ lệ tăng trưởng hằng năm kép 31% - trong giai đoạn 5 năm từ 2021 đến 2026.

Khi chính phủ Trung Quốc tìm kiếm sự liên kết từ các thương hiệu xe điện ngoài lãnh thổ. Tesla đã không mất quá nhiều thời gian để nắm bắt cơ hội tuyệt vời này.

Thời điểm tháng 8/2020, Trung Quốc đã chính thức miễn thuế cho ba mẫu xe đến từ thương hiệu Hoa Kỳ bao gồm Tesla Model 3, Tesla Model S và Tesla Model X.

Chiến lược kinh doanh của Tesla hướng sự tập trung đến thị trường Trung Quốc, cũng bao gồm việc xây dựng và đưa vào hoạt động nhà máy Tesla Giga Shanghai ở quốc gia này. Với tiến độ kỷ lục chỉ trong vòng 168 ngày, đạt công suất 150.000 xe xuất xưởng mỗi năm.

Bên ngoài nhà máy Tesla Giga Shanghai - nguồn: Electrive.com
Lời kết

Quay trở lại với vấn đề đã được đặt ra ở phần đầu bài viết. Chiến lược kinh doanh của Tesla có phù hợp với thương hiệu và mô hình kinh doanh của bạn hay không?

Hay chính xác hơn, chiến lược kinh doanh đến từ thương hiệu được chèo lái bởi một nhà lãnh đạo có sẵn độ ngông cuồng, dị biệt nhưng không kém phần hiệu quả ở trong cách ứng xử. Có thật sự phù hợp để áp dụng một cách phổ biến và đại chúng hay không?

Câu trả lời là có, bởi cũng như Vũ đã chia sẻ ở đoạn mở đầu bài viết. Elon Musk rất “điên" nhưng lại là kiểu điên mang tính chất đặc thù của một thiên tài.

Ông sở hữu một tâm lý vững vàng, một ý chí kiên định và quyết tâm trung thành trong mọi định hướng xây dựng hình ảnh cá nhân. Ở một khía cạnh nào đó, điều này làm tác động tiêu cực đến hình ảnh của một thương hiệu trên mạng xã hội.

Nhưng bằng nền tảng của một sản phẩm đủ tốt, một đội ngũ xây dựng chiến lược kinh doanh và chiến lược thương hiệu hiệu quả. Trên hết là niềm tin làm thay đổi cộng đồng, xã hội cũng như đời sống người dân theo chiều hướng tích cực lên từng ngày.

Tesla vẫn xứng đáng có được chỗ đứng hiện tại ở trên thương trường, đồng thời là vị thế vững chắc như hiện nay trong tâm trí của hàng triệu người tiêu dùng toàn cầu.

Xin chân thành cảm ơn,

Xem thêm

29/10/2021

Kinh doanh homestay nở rộ nhờ nắm bắt xu hướng lưu trú 2021

29 tháng 10 0

Tiềm năng kinh doanh homestay không chỉ đến từ lợi thế ngành du lịch quốc gia, mà còn được tác động tích cực bởi việc nắm bắt nhanh chóng xu hướng lưu trú trên thế giới.

Du lịch tất nhiên là một trong những nền kinh tế mũi nhọn quan trọng của Việt Nam. Ở thời điểm trước khi dịch Covid bùng phát vào cuối năm 2019, Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng trưởng ngành du lịch cao thứ ba thế giới.

Ghi nhận mức tăng trưởng 29% so với cùng kỳ năm ngoái, Việt Nam còn đồng thời nhận được một số giải thưởng đáng tự hào về du lịch. Một trong số đó có thể kể đến như giải Điểm Đến Golf Số Một Thế Giới do World Golf Awards trao tặng.

>> Xem thêm: Hướng dẫn xây dựng thương hiệu từ con số 0, ai cũng có thể thực hiện

Theo thống kê đến từ AirDNA, bình quân mỗi năm Việt Nam phải tăng 40% nguồn cung khách sạn truyền thống để đáp ứng nhu cầu của du khách trong và ngoài nước.

Kinh doanh homestay nở rộ nhờ nắm bắt xu hướng lưu trú 2021
Nguồn ảnh: internet

Trong khi đó chỉ tính riêng mảng kinh doanh homestay và chia sẻ nhà ở, Việt Nam đã ghi nhận mức tăng về số lượng địa điểm lưu trú đến 452%. Vượt xa số liệu bình quân trên toàn thế giới vốn chỉ cán mốc 140%.

Tốc độ phát triển ngành vừa là chỉ số đáng mừng cho tiềm năng phát triển mô hình kinh doanh tương ứng, mà ở đây là mô hình kinh doanh homestay.

Nhưng cũng vừa là báo hiệu cho thấy sự “chật chội" của thị trường cạnh tranh, cùng với thách thức cho những tên tuổi hay thương hiệu chân ướt chân ráo tham gia cuộc chơi.

Tiềm năng kinh doanh homestay đến từ thay đổi về khái niệm

Tiềm năng kinh doanh homestay đến từ thay đổi về khái niệm
Nguồn ảnh internet

Quay lại thời điểm cách đây tròn nửa thế kỷ trước, khi homestay vẫn chưa phải là một đại diện rõ ràng cho mô hình kinh doanh lưu trú.

Thời điểm đó khi homestay vẫn còn là một khái niệm tương đối nguyên bản. Đây là một hình thức lưu trú của du học sinh tại nhiều quốc gia trên thế giới - trong đó có Việt Nam.

Khái niệm homestay ban đầu

Khi bản thân du học sinh không đủ năng lực về tài chính để sở hữu hoặc thuê nhà, cũng không hứng thú với chuyện tìm đến lưu trú tại ký túc xá ở khu vực gần trường. Homestay lúc này là giải pháp tổng hoà được mọi ưu điểm của cả hai phương án nói trên.

Homestay là hình thức mà các chủ nhà sẽ đăng ký với trường đại học. Để sử dụng và chia sẻ công năng ngôi nhà với các bạn du học sinh hoặc sinh viên không có điều kiện nhà ở.

Sinh viên có thể tuỳ chọn hoặc đến sống cùng với chủ nhà do nhà trường chỉ định trước. Tham gia sinh hoạt cùng với gia đình chủ nhà trong ăn uống, vui chơi cùng nhiều hoạt động khác chứ không dừng lại ở mối quan hệ chủ trọ - người thuê trọ đơn thuần.

Kinh doanh homestay của thời điểm hiện tại

Kinh doanh homestay của thời điểm hiện tại

Nguồn ảnh: internet

Khi thị trường nghỉ dưỡng nói riêng và bất động sản nghỉ dưỡng nói chung đang dần chạm đến điểm bão hoà, nhu cầu du lịch nghỉ dưỡng và lưu trú của rất nhiều người cũng đang dần dịch chuyển theo. 

Bỏ qua những khu resort nghỉ dưỡng đắt đỏ hay khách sạn hạng sang. Kinh doanh homestay đang trở thành mảnh đất màu mỡ cho nhiều chủ đầu tư kinh doanh lưu trú. 

Khách du lịch cũng tìm đến các homestay nhiều hơn, với nhu cầu làm mới trải nghiệm du lịch nghỉ dưỡng của bản thân.

Tại Việt Nam, Đà Lạt vốn luôn được xem là chiếc nôi của kinh doanh homestay. Nhờ điều kiện địa lý và thời tiết lí tưởng, cùng với ưu thế từ lâu đã là điểm đến phổ biến hàng đầu của du lịch trong nước. 

Bên cạnh đó, cũng không thể bỏ qua tiềm năng kinh doanh homestay tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Bằng tính gắn liền với địa lý, khí hậu và văn hoá con người, kinh doanh homestay ở khu vực miền núi phía Bắc đã thật sự mang lại bộ mặt mới cho du lịch địa phương.

Có thể kể tên một số thương hiệu homestay được nhiều người biết đến như Nam Cang Riverside, Gem Valley Sapa hay Mộc Châu Arena Village.

Lợi thế dành cho chủ đầu tư kinh doanh homestay

Kinh doanh homestay tất nhiên là một câu chuyện rất khác so với mô hình khách sạn, nhà nghỉ hay nhà cho thuê truyền thống. 

Kinh doanh homestay là mô hình có mức chi phí đầu tư ban đầu linh hoạt. Chỉ từ vài trăm hay thậm chí là vài chục triệu đồng, bất cứ ai cũng có thể ngay lập tức bắt tay vào kinh doanh homestay. 

Đó là còn chưa kể đến việc, nền tảng của mô hình kinh doanh homestay lại đến từ chính ngôi nhà hoặc căn hộ bạn đang sở hữu. Trong tình huống kém khả thi nhất, chủ đầu tư vẫn có thể thuê lại nhà hoặc tiếp nhận sang nhượng từ các nhà đầu tư đi trước.

Rõ ràng là khi không cần đầu tư quá nhiều vào nguồn vốn, nguồn lực hay đặc biệt là đội ngũ nhân sự. Không quá khó hiểu khi kinh doanh homestay đã và đang trở thành mô hình khởi nghiệp lí tưởng cho rất nhiều bạn trẻ.

Bên cạnh đó, Việt Nam còn là một quốc gia sở hữu tiềm năng du lịch đa dạng. Các nhà đầu tư du lịch và dịch vụ lưu trú sẽ không bị tác động tiêu cực quá nhiều, bởi sự thay đổi về nhu cầu của khách du lịch tuỳ theo điều kiện thời tiết và khí hậu trong năm. 

Chẳng hạn như du khách phương Tây sẽ không bao giờ nghĩ đến việc, tìm đến lưu trú tại các quốc gia vùng vịnh trong những ngày hè đặc sệt cái nóng phả vào từ sa mạc. 

Hoặc khi đã quá chán ngấy với những ô cửa sổ bám đầy tuyết ở phía sau nhà. Tìm đến vùng Siberia của Nga trong những ngày cuối năm, khi thời tiết xuống đến âm 50 độ C cũng không phải một ý tưởng hay.

Trong khi đó Việt Nam với đường bờ biển trải dài gần hết chiều dài đất nước ở phía Đông, là quốc gia khí hậu ôn hoà và sở hữu nhiều ưu điểm khí hậu của cả đới nóng và đới lạnh.

Đặc tính này có thể làm ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của bà con nông dân, khi thời tiết liên tục diễn biến khó lường kéo theo nhiều thiên tai tác động trực tiếp đến mùa màng.

Nhưng đồng thời khí hậu chính là yếu tố then chốt làm nên thành công của du lịch Việt. Biến đất nước hình chữ S trở thành quốc gia hằng năm, liên tục chào đón du khách trong và ngoài nước lên đến hàng chục triệu lượt.

Kinh doanh homestay giai đoạn hậu Covid 19

Không thể phủ nhận rằng, trước khi dịch Covid 19 xảy đến và bùng phát thì kinh doanh homestay chính là món hời cho nhiều nhà đầu tư trẻ. Nhiều chủ đầu tư hồ hởi chia sẻ rằng tỉ lệ kín phòng vào mùa cao điểm có thể đạt đến hơn 80%.

Nhưng dịch bệnh tìm đến trên phạm vi toàn cầu cũng kéo theo bức tranh ảm đạm của kinh doanh homestay. Tỉ lệ kín phòng nhiều tháng gần như bằng không, nhiều nhà đầu tư tìm đường “tháo chạy" bằng cách sang nhượng lại căn hộ giá thấp, thậm chí chỉ từ 0 đồng.

Tuy nhiên thất bại cho người này cũng chính là mở ra cơ hội cho người khác. Không riêng gì kinh doanh homestay hay dịch vụ lưu trú, đại dịch Covid 19 còn là thời cơ để thanh lọc lại thị trường và thử thách năng lực chủ đầu tư của hàng trăm lĩnh vực khác nhau.

Kinh doanh homestay tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế đến từ sự lỏng lẽo trong công tác quản lý. Mà nguyên nhân sâu xa đến từ chính năng lực chuyên môn của nhà đầu tư quy mô vừa và nhỏ, thậm chí là các hộ gia đình với tính địa phương vẫn còn tương đối cao.

Như một câu nói đã truyền đi cảm hứng trên phạm vi toàn cầu của John Lennon - tay guitar vang danh một thời của The Beatles và đồng thời là nhà hoạt động hoà bình nổi tiếng: “Tất cả đến cuối cùng rồi cũng sẽ ổn thôi, nếu chưa ổn chứng tỏ đó chưa phải cuối cùng.”

Đại dịch Covid rồi sẽ có lúc gục ngã dưới sự phát triển và tiến bộ của y học nhân loại. Mở ra cơ hội phát triển mô hình kinh doanh homestay cho những chủ đầu tư có đầy đủ năng lực về nguồn vốn, tầm hiểu biết cũng như kinh nghiệm chuyên môn.

Trước mắt, đó chính là cơ hội thâu tóm nhiều chuỗi căn hộ homestay với mức giá không thể thấp hơn. Nhìn ra toàn cục, đó còn là cơ hội đa dạng hoá nguồn thu khi du lịch thật sự đã quay trở lại.

 Khách du lịch cũng không còn ngần ngại trong việc chi tiền để tự thưởng cho bản thân, sau thời gian dài tích cóp và tự nhốt mình dưới tác động của tầng tầng lớp lớp các chỉ thị nhằm phòng chống dịch bệnh.

Lời kết

Kinh doanh homestay là một trong những mô hình chịu tác động nặng nề nhất bởi đại dịch Covid. Nhưng như những gì Vũ đã chia sẻ ở trên, đây cũng là mô hình kinh doanh hứa hẹn nhiều tiềm năng cho những chủ đầu tư thật sự có giàu năng lực quản lý.

Để ngay lập tức bắt tay vào xây dựng chiến lược kinh doanh, chiến lược phát triển thương hiệu cũng như thiết kế nhận diện đạt đến độ hiệu quả cao nhất cho mô hình homestay. Hãy liên hệ ngay với đội ngũ của Vũ thông qua số hotline 0366 366 999.

Xin chân thành cảm ơn,

Nguồn: https://vudigital.co/kinh-doanh-homestay-no-ro-nho-nam-bat-xu-huong-luu-tru-2021.html

Xem thêm

28/10/2021

OKR là gì? Lịch sử hình thành và cách tạo động lực làm việc theo mục tiêu trong thế kỷ 21

28 tháng 10 0

Để giải thích ngắn gọn và đầy đủ ý cho câu hỏi OKR là gì. OKR là phương pháp thiết lập và đánh giá hiệu quả công việc minh bạch, nhờ xây dựng mục tiêu và đề ra kết quả then chốt khoa học và linh động.

Sir. Steve Jobs (24 tháng 2 năm 1955 – 5 tháng 10 năm 2011), nguồn ảnh: Apple
Sir. Steve Jobs (24 tháng 2 năm 1955 – 5 tháng 10 năm 2011), nguồn ảnh: Apple

Huyền thoại Steve Jobs - một tên tuổi lớn của thung lũng Silicon nói riêng và thế giới công nghệ nói chung đã từng chia sẻ:

Những thứ mà tôi yêu thích chưa bao giờ lấy đi một đồng nào của tôi cả. Và tôi phải đồng ý với các bạn rằng, tài sản quý giá nhất chúng ta có được chính là thời gian.

Vậy tại sao Vũ lại mượn hình ảnh và lời nói của ngài Steve Jobs để mở đầu bài chia sẻ này. Dù không muốn giấu giếm một sự thật, rằng bản thân đội ngũ của mình luôn dành sự mến mộ và tôn trọng lớn lao cho người đàn ông đã “thay đổi thế giới" theo đúng nghĩa đen.

Thứ nhất, câu chuyện về OKR có xuất phát điểm từ chính thung lũng Silicon. Nơi Apple đã cùng với Google, Intel, Netflix,...hợp thành một khu vực giàu có nhất trên phạm vi toàn cầu. Đồng thời góp công trực tiếp làm thay đổi thế giới công nghệ trong suốt nhiều năm qua.

Thứ hai, câu nói trên đủ thấy rằng Steve Jobs là người trân quý thời gian và đặc biệt xem trọng năng lực quản lý thời gian ra sao. Nó cũng hoàn toàn trùng khớp với ý tưởng mà cha đẻ của phương pháp OKR từng ấp ủ.

Sir. Andy Grove (2 tháng 9 năm 1936 - 21 tháng 3 năm 2016), nguồn ảnh: brandinginasia.com
Sir. Andy Grove (2 tháng 9 năm 1936 - 21 tháng 3 năm 2016), nguồn ảnh: brandinginasia.com

 Andy Grove - Cố Chủ tịch của Intel từng chia sẻ:

Nhiều người làm việc rất nhiều nhưng lại thu về rất ít.

Đây cũng chính là nguồn cảm hứng vô giá, để người đàn ông gốc Hungary kiến tạo nên phương pháp đánh giá tiến độ và hiệu quả công việc OKR.

Trên thực tế doanh nghiệp của bạn không cần phải có một quy mô đáng nể, một chỗ đứng rõ ràng trên thị trường chứng khoán giống như Apple, Google hay Intel - để bắt đầu nghiên cứu tính phù hợp và áp dụng vào giải pháp OKR.

Bản thân Vũ cũng đang ứng dụng OKR trong mô hình kinh doanh của mình. Đưa nó len lỏi vào công việc, đời sống cũng như các kế hoạch cá nhân tương lai của từng thành viên. Đó cũng là động lực để Vũ gửi đến tất cả mọi người bài chia sẻ lần này.

Nhưng trước tiên, cần phải thẳng thắn rằng OKR là một tập hợp của nhiều kết quả then chốt khác nhau. Với mục đích cuối cùng là phục vụ và hiện thực hoá mục tiêu cụ thể đã đề ra. Và vì thế tên gọi chính xác nhất của giải pháp này phải là OKRs.

Tuy nhiên cũng như trong rất nhiều bài viết trước đây của mình, Vũ luôn cố gắng tìm cách truyền tải và chia sẻ đơn giản nhất, dễ hiểu nhất đến tất cả mọi người. 

Với mong muốn rằng mỗi người dù ở bất cứ giới tính, độ tuổi hay lĩnh vực nghề nghiệp nào. Cũng có thể nhìn thấy những giá trị sâu sắc nhất mà đội ngũ của Vũ muốn gửi gắm.

Vì thế trong khuôn khổ bài chia sẻ lần này, Vũ muốn gọi khái niệm này bằng một cái tên dễ đọc dễ nhớ nhất, đó chính là OKR. 

Đồng thời sử dụng từ khoá “OKR là gì" để mang đến cho người đọc những góc nhìn trực quan nhất, chân thật nhất về giải pháp đánh giá tiến độ và hiệu quả công việc hàng đầu thế giới hiện nay.

OKR là gì và sự thật về tên gọi ban đầu

OKR là gì? Lược sử OKRs, thiết kế đồ hoạ Vũ Digital.
Lược sử OKRs, thiết kế đồ hoạ Vũ Digital.

Nếu từng ít nhất một lần cảm thấy rằng những gì mà cấp trên, ban lãnh đạo doanh nghiệp đang áp đặt lên mình thật khuôn khổ và hà khắc. 

Rồi bạn nhìn sang những công ty hàng đầu tại các quốc gia phát triển để tự hỏi. Rằng tại sao những điều tương tự lại đang không diễn ra ở đất nước của mình, thậm chí là ngay tại công ty của mình.

Vậy thì bạn cũng không cần cảm thấy quá cô đơn đâu. Bởi chính ở những quốc gia phát triển hàng đầu thế giới mà bạn thầm ngưỡng mộ, cũng đã từng tồn tại một giai đoạn mà mọi nhân viên cấp dưới đều chỉ biết làm theo chỉ thị từ cấp trên.

Thậm chí những động thái đến từ cá nhân nhằm cải thiện thực trạng đó, còn bị xem là một hành vi cố tình “phân quyền" và phản bội lại định hướng phát triển của doanh nghiệp. 

Peter Drucker - người được mệnh danh là cha đẻ của ngành Quản trị kinh doanh hiện đại, cũng từng có hơn hai thập kỷ mâu thuẫn sâu sắc với cấp trên. Đó là ông Alfred Sloan - người sáng lập ra tập đoàn danh tiếng GM Motors có trụ sở tại Michigan, Hoa Kỳ.

Khác biệt giữa Thực hành quản lý và Khoa học quản lý

Alfred Sloan luôn tin rằng quản lý là một bộ môn khoa học đúng nghĩa. Thành công của GM Motors đến từ năng lực của họ trong việc tối ưu hoá mô hình kinh doanh. Cùng với khả năng quản lý dòng tiền và kêu gọi các khoản đầu tư thông minh.

Trong khi đó Peter Drucker lại khẳng định rằng, quản lý là một hoạt động thực hành không hơn không kém. Ở đó thành công của GM Motors được quyết định bởi năng lực quản lý, dựa trên nền tảng con người và lấy năng lực nhân sự làm trọng tâm.

Sir. Peter Drucker (19 tháng 11 năm 1909 – 11 tháng 11 năm 2005), nguồn ảnh: danmaycock.com
Sir. Peter Drucker (19 tháng 11 năm 1909 – 11 tháng 11 năm 2005), nguồn ảnh: danmaycock.com

Chỉ sau hai năm đầu tiên làm việc tại GM Motors, Peter Drucker đã đánh dấu sự ra đời của phương pháp quản lý dựa trên mục tiêu MBO - Management by Objectives.

Bằng việc cho xuất bản tựa sách mang tên Concept Of Corporation. Và để đi tìm đáp án cho câu hỏi OKR là gì, trước tiên chúng ta phải thật sự thấu hiểu về nguyên lý vận hành của phương pháp MBO.

Cuốn sách mang đến một vài ý tưởng táo bạo về hệ thống quản lý phân quyền. Nghĩa là ban lãnh đạo đưa ra những mục tiêu dài hạn phù hợp với tầm nhìn và sứ mệnh công ty. 

Sau đó chia nhỏ chúng thành nhiều mục tiêu ngắn hạn, rồi giao xuống cho cấp dưới được toàn quyền hoàn thành các mục tiêu đó.

Ở trong một giai đoạn mà tại mọi doanh nghiệp, nhân viên cấp dưới chỉ biết nhận lệnh rồi làm theo. Tựa sách của Peter Drucker đã bị xem là một sự phản bội, đi ngược lại với định hướng tồn tại và phát triển của thượng tầng GM Motors.

Phải đến tận nhiều thập kỷ sau đó, ban lãnh đạo GM Motors mới bắt đầu nhận ra cái sai của họ. Đồng thời nhìn thấy được tính đúng đắn của giải pháp MBO, dù ở thời điểm đó tất cả đã trở nên muộn màng.

Peter Drucker đã nhanh chân hơn, bằng những thành công bước đầu khi chuyển sang ứng dụng phương pháp MBO cho các công ty Nhật Bản. 

Theo quan điểm của người từng được bình chọn là một trong bốn nhà quản lý bậc thầy thời hiện đại, mỗi nhân viên đều là tài sản vô giá của mọi doanh nghiệp. 

Họ xứng đáng được đóng góp nhiều hơn cho doanh nghiệp bằng năng lực trí thức của mình. Thay vì đóng vai trò như những cỗ máy biết nói không hơn không kém. Chỉ có thể đóng góp vào thành công ngắn hạn của doanh nghiệp bằng năng lực đôi tay đơn thuần.

Mục tiêu thay đổi hiệu suất, từ lý thuyết đến minh chứng khoa học

Sir. Cecil Alec Mace (22 tháng 7 năm 1894 - 7 tháng 7 năm 1971), nguồn ảnh: wiki
Sir. Cecil Alec Mace (22 tháng 7 năm 1894 - 7 tháng 7 năm 1971), nguồn ảnh: wiki

Cecil Alec Mace - thường được gọi bằng cái tên CA Mace, là một triết gia và nhà tâm lý học người Anh. Ông sinh năm 1894 tại Norwich và đến năm 18 tuổi thì chuyển đến học tại trường đại học Cambridge. 

Khi chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra, CA Mace từ chối phục vụ quân ngũ và bị đưa đi giam cầm ở Dartmoor. Cũng tại đây, nguồn cảm hứng nghiên cứu về tâm lý học con người của chàng trai theo đuổi chủ nghĩa hoà bình được thôi thúc mạnh mẽ. 

Năm 1935 CA Mace đã bắt đầu thực hiện các thử nghiệm đầu tiên về tâm lý học, liên quan trực tiếp đến các lý thuyết thiết lập mục tiêu. Các nghiên cứu của Giảng viên Triết học trường đại học Nottingham đã chỉ ra 5 sự thật bao gồm:

  • Hiệu suất công việc phụ thuộc vào sự tồn tại của các mục tiêu
  • Các mục tiêu nên được giao đến cá nhân, thay vì giữ lại trong nội bộ ban lãnh đạo
  • Các mục tiêu nên được chỉ định cho nhiều kế hoạch và kết quả khác nhau
  • Các mục tiêu nên được nâng cao hoặc cắt giảm để phù hợp với tình hình thực tế, thay vì kéo dài thời gian để chờ đợi hoàn thành mục tiêu ban đầu
  • Các mục tiêu khó khăn nhưng cụ thể sẽ mang lại hiệu suất cao hơn, so với những mục tiêu đơn giản nhưng chung chung kiểu như “hãy cố gắng hết sức nhé.”

Bên cạnh đáp ứng đầy đủ 5 tiêu chí kể trên khi xây dựng phương án đánh giá. CA Mace còn khẳng định rằng mấu chốt quan trọng nhất để nâng cao hiệu suất làm việc, đó là mỗi cá nhân trong đội ngũ phải liên tục phản hồi với cấp trên về tiến độ công việc của mình.

Những minh chứng khoa học này đến từ CA Mace, cũng trùng khớp với lý thuyết thiết lập mục tiêu mà Peter Drucker muốn gửi gắm thông qua phương pháp MBO.

Chuyện gì đã xảy ra với MBO?

Vào khoảng đầu những năm 50, lý thuyết quản lý bằng mục tiêu của Peter Drucker khá giống với những gì đang diễn ra ở Toyota. Tuy nhiên đây là giai đoạn mà phần lớn các thương hiệu đều đang theo đuổi những giá trị ngắn hạn.

Vì thế khi ứng dụng giải pháp quản lý MBO vào từng mô hình kinh doanh cụ thể. Nó đã bị biến tưởng để trở thành quy trình lập kế hoạch chú trọng vào kết quả nhiều hơn. 

Nhà quản lý dùng con số báo cáo để đánh giá hiệu quả công việc - thay vì thật sự cải tiến được quy trình làm việc như Peter Drucker từng kỳ vọng. 

Giống như ở Toyota, trong khoảng thời gian đó đến mãi những năm cuối thập niên 70, một vài cải thiện nhỏ trên sản phẩm là quá đủ để duy trì khả năng cạnh tranh của thương hiệu. 

Thậm chí sau đó nhiều năm, khi nhu cầu sở hữu sản phẩm với chất lượng đột phá trở nên rõ ràng hơn. Toyota hay Nissan cũng chỉ cần bán nhanh hàng tồn kho, hoặc cắt giảm một số lượng rất ít các nhân viên thì tình hình cũng đã được cải thiện lên trông thấy. 

Đó là còn chưa kể đến việc, các thương hiệu có thể tính đường chuyển dây chuyền sản xuất đến các quốc gia kém phát triển hơn. Rõ ràng là có quá nhiều phương án đủ sức phục vụ cho các mục tiêu mang tính định lượng.

Nhưng thật không may, không nhiều trong số đó đủ sức thay đổi quy trình và hiệu suất làm việc của đội ngũ một cách triệt để. MBO hay sau đó là IMBO (Quản lý Intel bằng mục tiêu) vì thế cần được đổi mới, để thật sự đóng góp vào quy trình cải thiện chất lượng lao động.

Vậy thì OKR là gì

Không thể phủ nhận một sự thật rằng, Peter Drucker chính là nhân vật đã đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển vượt bậc của OKR sau này.

Phương pháp MBO được ông nghiên cứu và trình làng vào đầu những năm 1950, đã mang lại thành công bước đầu cho Intel, HP,...cùng nhiều thương hiệu công nghệ khổng lồ khác.

Andy Grove, người đã hiện diện tại Intel trong khoảng thời gian 1968-2004 và có hơn hai thập kỷ đảm nhiệm chức giám đốc điều hành, chính là người sớm nhìn thấy cả tiềm năng lẫn khuyết điểm của MBO. 

Dĩ nhiên một nhân vật góp công đưa Intel trở thành công ty sản xuất chất bán dẫn hàng đầu thế giới như Andy Grove, sẽ không bỏ qua cơ hội mang lại cuộc cách mạng cho bất cứ thứ gì. Và phương pháp MBO được tạo ra bởi Peter Drucker cũng không phải là ngoại lệ.

Hành trình lột xác MBO

Điểm yếu lớn nhất mà Andy Grove nhìn thấy từ phương pháp MBO, đó là mối dây ràng buộc chặt chẽ giữa phần thưởng cá nhân với hiệu suất công việc. 

Trước khi phương pháp OKR xuất hiện và cả thế giới phải tìm hiểu xem OKR là gì, đã từng có giai đoạn mà hiệu suất làm việc của đội ngũ Intel bị chi phối tiêu cực bởi chính MBO.

MBO giống như một lời hứa đến từ lãnh đạo doanh nghiệp, rằng mỗi người đều sẽ được tưởng thưởng xứng đáng khi hoàn thành tốt các mục tiêu cá nhân.

Tuy nhiên vì phương pháp MBO mang nặng tính phân quyền, nên từng cá nhân trong đội ngũ cũng đủ sức bóp méo mục tiêu, quy trình hay thậm chí là kết quả. Tất nhiên là theo chiều hướng có lợi cho cá nhân, bất chấp quyền lợi và thành công của cả một tập thể.

Tách phần thưởng cá nhân ra khỏi hiệu suất làm việc

Sir. William Edwards Deming (ngày 14 tháng 10 năm 1900 - 20 tháng 12 1993)
Sir. William Edwards Deming (ngày 14 tháng 10 năm 1900 - 20 tháng 12 1993)

Thời gian đầu những năm 80, ông Edwards Deming - Giảng viên, chuyên viên tư vấn hàng đầu Hoa Kỳ và là người tạo ra hệ thống lý thuyết kiểm soát chất lượng công việc, đã có những chất vấn dành cho lý thuyết và giải pháp MBO đến từ Peter Drucker.

Ông Edwards Deming cho rằng, thay vì mang lại những cải tiến về quy trình và hiệu suất làm việc. Phương pháp MBO lại mang đến mong muốn đáp ứng hạn ngạch nhiều hơn. 

Nghĩa là mỗi mắt xích trong đội ngũ, họ chỉ sẽ cố gắng hoàn thành mục tiêu mà ban lãnh đạo đề ra. Thay vì làm được nhiều hơn thế bằng nỗ lực vượt qua bản ngã của chính mình, họ sẽ chỉ làm cho xong việc để đổi lấy phần thưởng mà bản thân vốn rất chờ đợi.

Đó cũng là suy nghĩ của chính Andy Grove – trong thời gian đầu được tiếp xúc và nghiên cứu về phương pháp quản lý dựa trên mục tiêu MBO. Mục tiêu thay vì trở thành nguồn gốc của những cải tiến nhằm nâng cao hiệu suất làm việc, giờ đây lại phản tác dụng khi trở thành vạch đích để phục vụ cho những mục tiêu mang đậm tính cá nhân.

Vì thế đối với bản thân Andy Grove, nhiệm vụ quan trọng nhất khi tham gia vào thay đổi và cải thiện chất lượng của MBO, chính là tách biệt phần thưởng cá nhân ra khỏi hiệu suất làm việc. Đồng nghĩa với việc khai sinh ra sự tồn tại của mục tiêu và kết quả then chốt. Để trả lời chính xác nhất cho câu hỏi phương pháp OKR là gì.

Khai sinh ra phương pháp OKR

Mỗi nhà quản lý lỗi lạc đều sẽ có triết lý quản trị của riêng mình. Triết lý quản trị của Andy Grove tại Intel càng về sau, càng bị ảnh hưởng phần nào bởi phương pháp quản lý MBO của Peter Drucker.

Để khắc phục những nhược điểm của MBO mà như đã nói, nó làm bào mòn nghị lực và ý chí vượt qua bản ngã của từng cá nhân trong đội ngũ. Andy Grove đã thổi thêm vào đó linh hồn của The Giving Of Order - bài tiểu luận được viết năm 1926 bởi Mary Parker Follett.

Mary Parker Follett sinh năm 1868 tại Massachusetts, Hoa Kỳ. Bà là nhà triết học, tư vấn quản trị và là một trong những người phụ nữ hiếm hoi đi đầu về lý thuyết quản lý công việc.

Năm 1926 bà viết bài luận đặt tên là The Giving Of Order. Trong đó bà lập luận rằng nhiều bằng chứng khoa học cho thấy, con người sẽ làm tốt hơn khi bị đưa vào tình thế phải tự mình giải quyết. Thay vì buộc phải nhận mệnh lệnh từ phía cấp trên.

Andy Grove cũng cho rằng, các nhà quản lý nên làm tốt vai trò lãnh đạo của mình - thay vì trở thành cỗ máy đánh giá hiệu suất công việc thông qua những con số báo cáo.

Khi chúng ta đang ngồi đây và tìm hiểu xem OKR là gì. Thì cần biết rằng trong suốt khoản thời gian từ năm 1968 đến năm 1997, Andy Grove đã không ngừng kết hợp các ưu điểm của cả MBO lẫn The Giving Of Order.

Với mục tiêu cuối cùng là tách biệt hiệu suất làm việc khỏi các khoản thưởng cá nhân, hoặc đền bù thiệt hại về tài chính nếu có. Nhằm phục vụ cho đầy đủ các mục tiêu từ ngắn hạn đến dài hạn của một doanh nghiệp.

Đó là lúc mà OKR - phương pháp thiết lập và đánh giá hiệu quả công việc minh bạch, nhờ xây dựng mục tiêu và đề ra kết quả then chốt khoa học và linh động được khai sinh.

Ai đã mang OKR đến với thế giới?

Sau khi đã biết được OKR là gì, dĩ nhiên câu hỏi tiếp theo mà nhiều người đặt ra sẽ là: “Vậy ai đã mang OKR đi khắp thế giới như vậy.” 

Có một sự thật rằng những thương hiệu và công ty vĩ đại nhất hành tinh. Từ Intel, Google, Facebook cho đến quỹ từ thiện The Gates Foundation. Tất cả họ đều chịu ơn duy nhất một cá nhân tưởng chừng như vô cùng nhỏ bé. Ít nhất là trên phương diện quản lý công việc.

Đó chính là John Doerr - người trở thành niềm cảm hứng dành cho đội ngũ của Vũ, để quyết định rằng sẽ chia sẻ bài viết lần này đến rộng khắp tất cả mọi người.

Sir. John Doerr, nguồn ảnh: kleinerperkins.com
Sir. John Doerr, nguồn ảnh: kleinerperkins.com

John Doerr là ai?

John Doerr sinh năm 1951 tại Missouri, Hoa Kỳ. Ông là nhà viết sách và đầu tư mạo hiểm nổi tiếng hàng đầu của xứ Cờ Hoa. Ông từng tốt nghiệp đại học Rice chuyên ngành kỹ thuật điện, sau đó giành luôn tấm bằng MBA từ trường đại học Harvard vào năm 1976.

Trước đó vào năm 1974, John Doerr có lần đầu tiên gặp gỡ với Andy Grove - Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của Intel lúc bấy giờ. 

Đây cũng là nơi chắp cánh cho giấc mơ theo đuổi phương pháp quản lý OKRs của John Doerr, giúp ông đạt được nhiều thành công khác nhau trong sự nghiệp - bao gồm cả việc viết sách và phân bổ nguồn vốn đầu tư.

Hành trình từ IMBO của Intel đến OKRs của nhân loại

Thời điểm John Doerr gia nhập Intel, IMBO hay OKRs vốn đã được vận hành trơn tru từ rất lâu rồi. Thậm chí John Doerr còn tương đối “sốc văn hoá" khi đây là lần đầu tiên trong đời, ông phải viết ra những mục tiêu cá nhân và để cho mọi người nhìn thấy chúng.

Khi tiếp đón Sergey Brin và Larry Page ở trụ sở của Kleiner Perkins - một công ty đầu tư mạo hiểm mà John Doerr đang làm việc tại đó. Ông không hề biết rằng, đó là buổi gặp sẽ đánh dấu mối lương duyên hoàn hảo của Google với OKRs.

Sergey và Larry từ trước đó đều là những người đánh giá cao tầm quan trọng, của việc hoạch định mục tiêu và viết ra giấy các mục tiêu quan trọng từ ngắn hạn đến dài hạn.

Tuy nhiên, đó không phải là cách để hai nhà sáng lập một công ty tham vọng cán mốc doanh thu 10 tỷ USD, chọn làm phương pháp quản lý và đánh giá hiệu suất công việc. 

Cũng giống như Sergey Brin đã nói khi lần đầu nghe John Doerr mô tả về OKRs: “Đúng thế, chúng ta cần một nguyên tắc quản lý cụ thể cho công ty, hiện tại thì chưa có gì mà tôi thì thấy cái này cũng ổn đấy.”

Thế là vào một ngày đẹp trời tại Mountain View, John Doerr đã có buổi thuyết trình đầu tiên để giải thích rằng OKR là gì - đến hơn 30 nhân sự của Google tại thời điểm đó bao gồm cả Sergey Brin và Larry Page.

Trong buổi nói chuyện của mình, John Doerr đã lấy chính trường hợp bản thân nhằm minh hoạ cho các thành phần cần có của OKR. 

Ông kể rằng để phục vụ cho kết quả then chốt là cải thiện chất lượng thuyết trình, bản thân từng đặt mục tiêu giới hạn thời lượng của mỗi buổi thuyết trình chỉ trong 90 phút.

Sau đó John Doerr đã thật sự kết thúc buổi nói chuyện đầu tiên chỉ trong 90 phút. Như một lời khẳng định cho thành công và tiềm năng của phương pháp quản lý OKR, trước những ánh nhìn thán phục đến từ đội ngũ Google.

Dĩ nhiên Sergey Brin và Larry Page không gặp quá nhiều trăn trở, để quyết định đưa vào ứng dụng phương pháp OKR gần như ngay lập tức. Trước khi OKR tạo được tiếng vang tại Twitter, Microsoft hay LinkedIn.

Sau đó tầm ảnh hưởng của OKR còn vượt ra khỏi lãnh thổ của thung lũng Silicon, lọt vào tầm ngắm của Samsung, BMW, Uber,...và dĩ nhiên là đều nhận được những phản hồi vô cùng tích cực.

Thành phần của OKR là gì

Theo những nghiên cứu của nhà tâm lý học người Anh CA Mace, bên cạnh việc thật sự thấu hiểu rằng OKR là gì. Ban lãnh đạo lẫn đội ngũ nhân sự của mọi doanh nghiệp còn phải tuân thủ một quy tắc quan trọng - để OKR có thể phát huy hết tác dụng của nó.

Đó là mỗi cá nhân trong đội ngũ, đều phải liên tục phản hồi với cấp trên về tiến độ cũng như hiệu suất công việc của mình.

Ở trong đội ngũ của Google, kể từ khi mọi người biết đến sự tồn tại của OKR và hiểu được phương pháp OKR là gì. 

Nó đã liên tục chứng minh được tầm quan trọng của mình khi cứ hai tuần một lần, Larry Page và Sergey Brin sẽ họp với đội ngũ để đánh giá lại tính phù hợp của từng mục tiêu hay kết quả then chốt.

Điều tương tự diễn ra giữa các phòng ban với nhau mỗi tháng một lần. Giữa trưởng phòng hay trưởng bộ phận với cấp dưới của họ là mỗi tuần một lần.

Vì thế thành phần của OKR là gì cũng là một câu hỏi được rất nhiều người quan tâm. Bởi tuân thủ tuyệt đối các quy luật và thành phần của OKR, chính là cách giúp từng cá nhân đánh giá và kiểm soát mức độ hiệu quả của chính OKR do mình đề ra.

OKR phải cụ thể chứ đừng mông lung

Vấn đề thành phần của OKR là gì không chỉ là đi tìm ra một công thức, mà phải thật sự thấu hiểu để nhìn thấy bản chất của khái niệm OKR. 

Bản chất của OKR là sự cụ thể trong từng mục tiêu đề ra. Chứ không phải mông lung hoặc tự hứa với lòng rằng bản thân “sẽ làm hết khả năng.” Nhưng rồi cuối cùng chỉ sử dụng cùng lắm là 60% năng lực thật có.

Giống như những gì bà Marissa Mayer - cựu Phó chủ tịch Google từng chia sẻ:

Nếu không có con số cụ thể, thì đó chưa phải là kết quả then chốt.

Về bản chất, những mục tiêu đều đóng vai trò như một đại diện cho tầm nhìn hoặc sứ mệnh thương hiệu. Chúng không có một con số nào đó để định lượng, đánh giá mức độ thực tế và vì vậy, kết quả then chốt càng phải cụ thể hơn để bảo vệ cho tính khả thi của mục tiêu.

Công thức của OKR là gì

 
OKR là gì? Mô hình OKRs, thiết kế đồ hoạ Vũ Digital.
Mô hình OKRs, thiết kế đồ hoạ Vũ Digital.

Hiểu được thành phần của OKR là gì thì sẽ rất nhanh chóng thôi, bạn sẽ tìm ra công thức của phương pháp OKR. Theo cách định hình giải pháp của John Doerr, OKR có hai thành phần chính làm nên công thức là Mục Tiêu và Kết Quả Then Chốt.

Trong đó Mục Tiêu là những thành tựu cụ thể mà bạn muốn đạt được trong tương lai. Đó có thể là mục tiêu chung của cả doanh nghiệp hay phòng ban, nhưng đồng thời có thể là mục tiêu cá nhân nhằm phục vụ cho mục tiêu lớn hơn của cả tập thể.

Mục tiêu càng ngắn gọn, càng dễ hiểu và dễ nhớ thì càng tốt. Đặc biệt Mục Tiêu phải hướng đến nhiều giá trị tốt đẹp và ủng hộ tinh thần đội ngũ. Truyền cảm hứng cho cá nhân cũng như tập thể kiến tạo nên những thành tựu tuyệt vời.

Ngược lại như đã nói, Kết Quả Then Chốt thì phải cụ thể và chứa đựng con số đo lường. Nhằm bảo vệ cho tính khả thi, mà đồng thời còn là cơ sở để đánh giá mức độ phù hợp của OKR cá nhân lẫn đội ngũ sau từng tháng, quý hoặc năm.

Công thức OKR là gì đến từ John Doerr

Tôi sẽ (Mục tiêu) được đo lường bởi (Kết quả then chốt).

Chẳng hạn như mục tiêu của phòng ban là “cải thiện trải nghiệm khách mua hàng.” Khi đó cần đề xuất một số kết quả then chốt có thể kể đến như:

  • Tăng tỷ lệ chuyển đổi từ khách hàng tiềm năng thành khách mua hàng lên 36%
  • Tăng số lượt đánh giá hài lòng với quy trình mua hàng từ 42% lên 58%
  • Tăng tỷ lệ phản hồi tư vấn qua kênh mua hàng trực tuyến từ 31% lên 56%

Thay vì sử dụng chiêu trò hoặc đổ tiền vào các kênh truyền thông có hiệu quả kém, hiểu được công thức OKR là gì và ứng dụng nó vào trong thực tế chính là chiếc chìa khoá vạn năng, mở ra mọi cánh cửa tìm đến thành công của mọi đội ngũ và tập thể doanh nghiệp.

Case study phương pháp OKRs

Như đã nói ở phần đầu bài viết, OKR là giải pháp toàn diện nhất thế giới hiện nay nhằm đánh giá và quản lý hiệu suất công việc của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều minh chứng cho thấy rằng OKR còn đặc biệt phù hợp với nhiều tổ chức và đoàn thể khác nhau.

Một số case study phía bên dưới về thành công khi ứng dụng phương pháp OKR, mà Vũ sắp gửi đến mọi người sẽ chứng tỏ mức độ phù hợp của OKR với nhiều mô hình kinh doanh, làm việc và quản lý khác nhau.

1/ Thành phố Syracuse, New York

Chính quyền thành phố Syracuse, thuộc bang New York đã đề ra kế hoạch giữ vững tính ổn định qua nhiều năm tài chính khác nhau. Bằng cách tìm hiểu công thức OKR là gì để ứng dụng nó vào trong thực tiễn.

Mục tiêu: giữ vững tính ổn định qua nhiều năm tài chính.

Kết quả then chốt bao gồm:

  • Giảm sai lệch ngân sách chung từ 11% xuống còn 5%
  • Chi tiêu 95% số vốn uỷ quyền cho đến cuối mỗi năm tài chính
  • Dành 95% tiền tài trợ để tài trợ cho các kế hoạch từ những năm tài chính trước.

2/ Công ty quần áo Allbirds

Với phương châm “làm mọi thứ tốt đẹp lên bằng những cách tốt đẹp hơn", công ty quần áo Allbirds luôn không ngừng tìm kiếm các giải pháp thể hiện sự thân thiện với môi trường - trong từng chiến dịch và sản phẩm mà hãng bán ra. OKR của đội ngũ Allbirds như sau:

Mục tiêu: tạo ra lượng khí thải carbon thấp nhất so với đối thủ cạnh tranh.

Kết quả then chốt bao gồm:

  • Cơ sở hạ tầng và chuỗi cung ứng 100% không có chất thải
  • Tối thiểu 25% nguồn nguyên vật liệu phải phân huỷ được
  • 75% nguyên vật liệu có thể phân huỷ sinh học.

3/ Nhóm chịu trách nhiệm quản lý thành viên/khách tham quan của một bảo tàng X

Dưới đây là một trường hợp tuân thủ công thức OKR là gì, nhằm phục vụ cho một phòng ban hoặc đội nhóm cụ thể. Để phương pháp OKR không còn bị trói buộc trong giới hạn của một thương hiệu, một doanh nghiệp hay một tổ chức có quy mô lớn.

Mục tiêu: thu hút người trẻ tuổi tham gia mua và sở hữu vé mùa, vé tháng.

Kết quả then chốt bao gồm:

  • Tăng gấp đôi lượng khách đăng ký vé mùa là những người dưới 30 tuổi
  • Hợp tác với 5 nhân vật trẻ tạo được sức ảnh hưởng trong phạm vi địa phương
  • Thu hút tối thiểu 75 người trẻ mỗi tháng đăng ký giao lưu với các nghệ sĩ.

Lời kết

Mãi cho đến những năm gần đây khi thị trường, doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam mới bắt đầu có những góc nhìn đúng đắn về tác động của OKR hay khái niệm OKR là gì. Thì phương pháp này đã sớm “được thai nghén" tại nhiều quốc gia phương Tây.

Thông qua những công trình nghiên cứu đến từ nhà tâm lý học người Anh Cecil Alec Mace. Hoặc xa hơn nữa là bài tiểu luận The Giving Of Orders đến từ nhà tư vấn quản trị Mary Parker Follett. 

Trước khi những Peter Drucker, John Doerr hay đặc biệt nhất là trường hợp của Andy Grove, những tên tuổi lẫy lừng của quản trị kinh doanh hiện đại nói chung và thuyết quản lý hiệu suất công việc nói riêng.

Tất cả họ đã góp phần làm nên hình hài, tính ổn định cũng như tầm ảnh hưởng hết sức to lớn của phương pháp quản lý OKRs. 

Giúp hàng triệu doanh nghiệp và thương hiệu lớn nhỏ trên thế giới ngày nay, vẽ ra lộ trình kiểm soát chặt chẽ tiến độ cũng như hiệu suất công việc. 

Dựa trên nền tảng phối hợp của từng cá nhân trong một tập thể, vừa tuân thủ lại vừa thấu hiểu lẫn nhau, để hướng đến thành công to lớn nhất mà ban lãnh đạo doanh nghiệp vẫn đang không ngừng theo đuổi.

Xin chân thành cảm ơn,

Nguồn: https://vudigital.co/okr-la-gi-lich-su-hinh-thanh-va-cach-tao-dong-luc-lam-viec-theo-muc-tieu-the-ky-21.html

Xem thêm